
Vì Do Thái giáo từ nguyên thủy là một tôn giáo của một bộ tộc du mục, nên quan niệm về ơn cứu độ chỉ đóng khung trong bộ tộc đó. Theo não trạng của người Do Thái, ơn cứu độ chỉ dành cho dân Ítraen là dân được Thiên Chúa tuyển lựa. Tuy vậy, dựa vào lời Đức Chúa hứa với Abraham, dân Do Thái cũng tin rằng muôn dân sẽ được thừa hưởng phúc lành nhờ họ (St 12,3). Có những người theo trường phái cực đoan, chủ trương rằng chỉ người Do Thái mới có thể được cứu rỗi. Quan niệm này tạo nên một lối suy nghĩ chủ quan, dẫn đến kiêu ngạo. Đức Giêsu đến trần gian để điều chỉnh lại quan niệm lệch lạc này. Người tỏ cho con người thấy gương mặt dịu hiền nhân từ của Chúa Cha. Thánh Gioan đã viết: “Thiên Chúa, chưa bao giờ có ai thấy cả, nhưng Con Một vốn là Thiên Chúa và là Đấng hằng ở cung lòng Chúa Cha, chính Người đã tỏ cho chúng ta biết”. Qua lời giáo huấn của Chúa Giêsu, con người nhận ra Thiên Chúa là Cha chung của cả gia đình nhân loại.
Kitô hữu chúng ta vốn là dân ngoại, nhưng nhờ bí tích Thanh tẩy, chúng ta được tháp nhập vào dân riêng của Thiên Chúa. Chúng ta được gọi là con Thiên Chúa nhờ việc đón nhận Đức Giêsu, Ngôi Lời nhập thể (x. Ga1.12-13). Thánh Phaolô viết: “Trước kia anh em là những người ở xa, nhưng nay trong Đức Kitô Giêsu, nhờ máu Đức Kitô đổ ra, anh em đã trở nên những người ở gần. Thật vậy, chính Người là bình an của chúng ta: Người đã liên kết đôi bên, dân Do Thái và dân ngoại thành một; Người đã hy sinh thân mình phá đổ ngăn cách là sự thù ghét” (Ep 2,13-14). Quả vậy, từ nguồn gốc dân ngoại, Bí tích Thánh tẩy đã làm cho chúng ta được tháp nhậm vào dân Ítraen mới, là dòng dõi Abraham trong đức tin.
Thánh Mátthêu thuật lại sự kiện ba nhà đạo sĩ đến thờ lạy Hài Nhi Giêsu mới sinh tại Bêlem. Các ông đại diện cho phương Đông, là thế giới mà người Do Thái thường gọi là “dân ngoại”. Ngôi sao lạ đã hướng dẫn các ông thờ lạy vị Vua mới sinh. Điều kỳ lạ là, các ông lên đường với mục đích chiêm ngưỡng một vị vua, và chắc các ông mường tượng vị vua đó sẽ ngự trên ngai vàng điện ngọc lộng lẫy. Nhưng không phải vậy. Khi đến Bêlem, các ông chỉ thấy một trẻ thơ mới sinh trong cảnh cơ hàn nghèo khó. Sự nghèo khó bề ngoài không làm các ông nản lòng. Các ông vui mừng dâng lên Hài Nhi của lễ đặc trưng cho các dân tộc phương Đông, đó là vàng, nhũ hương và mộc dược. Các của lễ này, theo cách cắt nghĩa của truyền thống, mang tính biểu tượng phong phú: vàng thường được dâng cho vua chúa; trầm hương được dâng kính các thần linh; và mộc dược thường dùng để tẩm liệm xác người đã chết và chữa lành những đau đớn. Như vậy, các lễ vật ba nhà đạo sĩ mang đến dâng Chúa mang ngôn ngữ biểu tượng đặc biệt.
Qua ba nhà đạo sĩ, muôn dân đã được thấy Ánh Sáng. Ơn Cứu độ mà Thiên Chúa thực hiện trong Đức Giêsu Kitô không chỉ dành riêng cho dân tộc Do Thái mà cho tất cả những ai thành tâm thiện chí. Lời tuyên bố của Đức Chúa trong sách Ngôn sứ Isaia: “Này Ta đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ của Ta đến tận cùng cõi đất” (Is 49,6) đã được thực hiện nơi Đức Giêsu. Trong Tin Mừng thánh Gioan, Đức Giêsu khẳng định: “Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống” (Ga 8,12). Kitô hữu là người bước đi trong ánh sáng của Đức Kitô. Kitô hữu cũng được mời gọi cố gắng nỗ lực mỗi ngày để trở nên ánh sáng, nhờ tiếp nhận ánh sáng thánh thiện từ Đức Giêsu. “Chính anh em là áng sáng cho trần gian. Một thành xây trên núi không tài nào che giấu được….Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời” (Mt 5,14-16).
Trong Phúc Âm, chúng ta thấy một số người ngoại, tức không phải Do Thái lại được diễn tả với cái nhìn rất tích cực. Đó là người phụ nữ Phênixi đến xin Chúa chữa con mình khỏi quỷ ám (x. Mt 15,21-28; Mc 7,24-30). Đó là viên sĩ quan hoàng gia ở Caphácnaum xin Chúa chữa bệnh cho con trai đau nặng sắp chết (x. Ga 4,46-54). Đó còn là viên bách quan đội trưởng, khi chứng kiến Chúa Giêsu tắt thở trên thập giá, đã thốt lên: “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa” (Mc 15,39). Cũng có thể nhắc đến người Samaria nhân hậu trong dụ ngôn Chúa nói trong Tin Mừng thánh Luca (x.Lc 10,29-37); người cùi được chữa lành trở lại cám ơn Chúa (Lc 17,11-19)… Qua những nhân vật này, Chúa nói với chúng ta: người ngoại cũng có một trái tim, có lòng trắc ẩn và họ cũng cần được cứu rỗi, trong khi những ai cậy mình là dân được tuyển chọn phải cẩn thận xem lại mình.
Hành trình đức tin của Kitô hữu cũng là hành trình vươn mình về phía ánh sáng. Cuộc chiến giữa ánh sáng và tối tăm; giữa cái thiện và cái ác luôn là cuộc chiến cam go và ác liệt. Trong hành trình tìm kiếm vị vua mới sinh, các nhà đạo sĩ đã có lúc không còn thấy ngôi sao chỉ đường nữa, nhưng các ông không nản. Các ông đã tìm đến Giêrusalem, là nơi các ông có thể tìm thấy sự hướng dẫn và quả đúng như vậy. Cuộc tìm kiếm của các ông còn gặp nguy hiểm đến từ vua Hêrôđê, người lo sợ bị mất ngai vàng. Thiên Chúa luôn nâng đỡ những ai tìm kiếm Ngài. Giấc mơ và lời sứ thần mà các ông nghe thấy, chính là sự nâng đỡ và soi sáng của Thiên Chúa. Như các nhà đạo sĩ, chúng ta cần lắng nghe lời chỉ dẫn của Chúa, để biết đâu là con đường phải đi và đâu là những việc phải làm.
“Đứng lên, bừng sáng lên, Giêrusalem hỡi, vì ánh sáng của ngươi đến rồi!”. Đó là lời hiệu triệu được gửi tới những ai tin vào Chúa. Hãy đứng thẳng, tức là hãy sống trung thực, xứng đáng là con của Chúa. Hãy đứng thẳng, đó cũng là trạng thái an bình thanh thản của một người luôn phó thác vào quyền năng và tình yêu thương của Đấng đã chết để cứu độ nhân loại.
Lễ Hiển Linh năm nay là ngày kết thúc Năm Thánh Hy Vọng cấp Giáo Hội hoàn vũ. Tại Rôma, Đức Thánh Cha sẽ dâng lễ bế mạc Năm Thánh. Năm Thánh khép lại, nhưng là khởi đầu của cuộc lên đường mới. Như các nhà đạo sĩ “đi lối khác mà về”, chúng ta hãy lên đường để loan báo Đức Kitô là Niềm Hy Vọng cho thế giới hôm nay.
+TGM Giuse Vũ Văn Thiên

