Trong xã hội Việt Nam, người Công giáo chúng ta chỉ chiếm 8% tổng dân số hơn 100 triệu người. Giữa một xã hội đông đúc, Ki-tô hữu chỉ là thiểu số. Hơn nữa, trong thực tế vẫn tồn tại những thành kiến của anh chị em đồng bào đối với Giáo hội Công giáo, do cách hiểu không đúng về lịch sử. Chính vì vậy, nhiều khi chúng ta không dám nhận mình là Ki-tô, không chỉ trước một đám đông, mà còn trong một cơ quan, một bệnh viện hay một tập thể tổ chức mà mình là thành phần. Thậm chí trong một số trường hợp, việc xưng mình là người Công giáo có thể ảnh hưởng tới việc làm và vị thế xã hội. Ở phía Nam, tỷ lệ người Công giáo đông hơn phía Bắc, nên những thành kiến và e ngại cũng nhẹ nhàng hơn. Lời Chúa hôm nay khẳng định vinh dự và niềm tự hào của người tin vào Chúa. Thánh Phao-lô viết: nhờ Máu Đức Ki-tô đổ ra, chúng ta được ơn tha thứ. Chúng ta không còn là thù nghịch với Thiên Chúa, nhưng được hòa giải với Ngài. Hơn nữa, chúng ta còn có Thiên Chúa là niềm tự hào (Bài đọc II).

Niềm tự hào này cũng được khẳng định trong giáo huấn của Cựu ước. Thiên Chúa đã phán với dân Ít-ra-en qua ông Môi-sen: “Nếu các ngươi thực sự nghe tiếng Ta và giữ giao ước của Ta, thì giữa hết mọi dân, các ngươi sẽ là sở hữu riêng của Ta” (Bài đọc I). Dân Ít-ra-en luôn tự hào với danh nghĩa “Dân riêng Thiên Chúa”, “Dân được tuyển lựa”. Thiên Chúa luôn tỏ tình ưu ái với dân của Ngài. Tâm tình này được diễn tả trong lời giáo huấn của các Thánh vịnh cũng như các ngôn sứ. “Si-on nói: ‘Đức Chúa đã bỏ rơi tôi, Chúa đã quên tôi rồi.’ Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình…? Cho dù nó có quên, thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ” (Is 49,14-15). Đó chỉ là một trong nhiều trích dẫn trong Cựu ước đến diễn tả tình thương mến của Thiên Chúa đối với Dân Ngài đã chọn.

Nhờ Bí tích Thanh tẩy, Ki-tô hữu được tháp nhập vào dân Ít-ra-en mới, tức là Giáo hội, và trở nên con cháu của Tổ phụ A-bra-ham trong đức tin. Vì A-bra-ham là cha của những người tin (x. Rm 4,11), nên những ai tin vào Thiên Chúa, thì thuộc dòng dõi của Ông. Niềm tự hào có Thiên Chúa là Cha không giống như một thương hiệu, cũng không phải là một “miễn tử kim bài” để che chắn cho chúng ta khỏi bị trừng phạt. Dân Ít-ra-en đã nhiều lần tự phụ và nghĩ rằng có Chúa lo liệu tất cả. Vì thế, có lần chính Hòm bia của Thiên Chúa cũng bị người Phi-li-tinh chiếm giữ (x. 1 Sm 4). Chúa Giê-su sau này khẳng định: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: ‘Lạy Chúa! Lạy Chúa!’ là được vào Nước Trời…” (Mt 7,21). Ki-tô hữu là một danh dự, nhưng người được mang danh ấy phải cố gắng thường xuyên để nên giống như Đức Ki-tô. Đức Ki-tô là mẫu mực của chúng ta. Người là “Con Người” theo nghĩa hoàn hảo nhất. Nên giống Chúa Ki-tô, đó là lý tưởng và đích điểm của người tín hữu.

“Anh em là dòng giống được tuyển chọn, là hàng tư tế, vương giả, là dân tộc thánh thiện, dân riêng của Chúa, để rao giảng quyền năng của Đấng đã gọi anh em ra khỏi tối tăm mà vào ánh sáng kỳ diệu của Người” (1Pr 2, 9). Với những lời này, thánh Phê-rô diễn tả vinh dự cao quý của Ki-tô hữu. Nhờ bí tích Thánh tẩy, chúng ta được Chúa ban cho ba chức năng: chức năng Ngôn sứ (để rao giảng Lời Chúa); chức năng Tư tế (để thánh hóa bản thân và góp phần thánh hóa xã hội); chức năng Vương đế (để cộng tác xây dựng cộng đoàn Giáo hội địa phương, nơi mình đang sống). Những chức năng này vừa là danh dự, và vừa là trách nhiệm. Vì thế, niềm vinh dự và tự hào phải là động lực khuyến khích chúng ta sống theo giáo huấn của Chúa và của Giáo hội. Khi liên kết hiệp thông với anh chị em Ki-tô hữu, chúng ta diễn tả một Giáo hội thánh thiện, lạc quan và tràn đầy hy vọng vào tương lai. Thiên Chúa ở với chúng ta. Ngài luôn chúc lành cho chúng ta, qua Giáo hội mà Chúa Giê-su đã thiết lập.

 “Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy”. Đó là lời dặn dò của Chúa Giê-su khi sai các ông đi truyền giáo (Bài Tin Mừng). Loan báo Tin Mừng (hay truyền giáo) không phải một dịch vụ, vì dịch vụ thì luôn nhằm tới thù lao và tiền bạc. Đối với các tín hữu sống ơn gọi giáo dân, loan báo Tin Mừng đơn giản chỉ là sống lời Chúa Giê-su đã dạy, với tình yêu thương và vui mừng trong gia đình, trong lối xóm và trong cộng đoàn. Chúa Giê-su đã nói: “Anh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời” (Mt5,16). Trong bất cứ môi trường sống nào, Ki-tô hữu ý thức mình được Chúa Giê-su sai đi để làm chứng cho Người. Đó chính là ơn gọi thừa sai, và cũng là một niềm tự hào của Ki-tô hữu chúng ta.

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên