Tùy bút của người con xa xứ

Buổi chiều cuối tháng 10, trời Sài Gòn dường như dịu lại, những vệt nắng yếu ớt cuối ngày còn vương trên các ô cửa kính của những tòa nhà cao tầng. Không khí se lạnh và tiết trời ảm đạm như thể mùa thu đang ghé qua thành phố bằng những bước chân rất khẽ. Tôi lang thang qua những con đường quanh Nhà thờ Đức Bà và ngắm nhìn các con phố đã rải rác lên đèn, những tiệm Café đã ngập tràn những hình ảnh Halloween với đủ hình thù kỳ dị. Tôi dạo bước thong dong, thỉnh thoảng có cơn gió se lạnh luồn qua kẽ tóc, tiếng chuông nhà thờ khẽ ngân lên khiến tôi thấy nao nao. Trong tiếng chuông thanh thoát cùng tiết trời se sắt cuối thu ấy, tôi nhận ra tháng cầu hồn đang về rất gần. Lòng tôi bỗng dưng chùng lại, dâng lên nỗi nhớ quê hương cồn cào, khắc khoải, nỗi nhớ của người con xa “QUÊ ”.

Tôi sinh ra và lớn lên ở một xứ Đạo toàn tòng miền Bắc. Xứ tôi nép mình bên bờ sông Chanh Dương hiền hòa và được bao bọc bởi những cánh đồng lúa vàng óng trải dài. Tôi rời quê vào Sài Gòn lập nghiệp đã hơn mười năm, nhưng quê hương vẫn luôn là ký ức dịu dàng và sâu lắng nằm sâu trong trái tim tôi. Nơi đó, tuổi thơ tôi được nuôi dưỡng bởi những lời kinh, tiếng hát, những buổi theo bà, theo mẹ đi lễ, đi rước kiệu, đọc kinh,... Những kỷ niệm thân thương ấy đã trở thành một phần ký ức không thể phai mờ, để rồi mỗi khi tháng 11 về, lòng tôi lại bồi hồi nhớ về quê hương, nhớ những người thân yêu đã rời xa.

Có lẽ, tháng cầu nguyện cho các linh hồn đã đánh thức trong tôi những niềm ký ức tưởng chừng như đã ngủ yên. Ký ức ấy có thể bất chợt thức giấc khi tôi bắt gặp một nụ cười, một ánh mắt, một nghĩa cử thân thương, gần gũi,... khẽ lướt qua. Tôi nhớ những gương mặt, những nụ cười hiền hậu của ông bà nội ngoại, của người thân yêu, bạn bè, hàng xóm,... Đôi khi, nỗi nhớ da diết ấy trào dâng thành những giọt nước mắt lặng lẽ rơi trong trái tim tôi. Tôi nhận ra, có những người tuy đã rời xa nhưng tình yêu thương họ để lại vẫn hiện diện trong sâu thẳm ký ức, để khi có dịp nhớ về họ những điều bình dị ấy lại trở nên trân quý biết bao.

Nỗi nhớ ấy nhắc nhở tôi về bổn phận thiêng liêng: sống trọn chữ “hiếu” với những người thân đã qua đời. Với mỗi người Công Giáo, chữ “hiếu” không chỉ được thể hiện bằng sự tưởng nhớ mà còn đươc cụ thể hóa qua việc xin lễ, cầu nguyện, thăm viếng phần mộ của những người đã khuất và hơn hết là sống nghĩa cử bác ái, yêu thương mỗi ngày. Tôi nhớ đến những lời của cha xứ quê hương trong bài giảng tại nghĩa trang khi tôi về thăm quê vào dịp cuối năm. Ngài nhắc nhớ mỗi người nên hiệp thông với người thân đã qua đời bằng lời cầu nguyện, bằng những hi sinh và việc lành để đền tội cho các ngài và phó thác họ cho lòng thương xót Chúa. Chúng ta cũng có thể tiếp nối những điều tốt đẹp mà các ngài còn đang thực hiện dang dở ở đời này bằng cách tiếp tục những việc lành thánh thiện, trao ban yêu thương và nâng đỡ những người đau khổ đang cần đến chúng ta.

Như thế, sự hiệp thông với người đã khuất không chỉ dừng lại ở những lời kinh hay những lần viếng mộ mà còn được nối dài qua những nghĩa cử yêu thương của những người đang sống. Đó là cách chúng ta giữ gìn tình thân, tiếp nối những giá trị tốt đẹp và để tình yêu vượt qua ranh giới của sự chia lìa. Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu trong “Những lời trăn trối cuối cùng” đã bày tỏ ước nguyện: “Con muốn dành Thiên Đàng của con để làm điều thiện dưới thế”. Lời ấy gợi nhắc tôi rằng tình yêu đích thực không khép lại trước cái chết mà vẫn tiếp tục trổ sinh hoa trái. Trong lòng thương xót Chúa chúng ta cùng hướng về ngày đoàn tụ bên Ngài. Đó cũng là đích điểm mà mỗi người Kitô hữu luôn mong mỏi hướng tới.

Thế nhưng, hành trình hướng về quê hương Vĩnh Cửu không có nghĩa là xa rời quê hương trần thế. Trái lại, khi biết trân trọng những gì mình đang có, ta càng nhận ra vẻ đẹp của tình yêu và sự hiệp thông trọn vẹn ngay trong chính cuộc sống này.

Nhìn lại quãng thời gian hơn mười năm vào Sài Gòn sinh sống, tôi luôn thầm tạ ơn Chúa vì những gì nhận được nơi mảnh đất thân thương này. Đó là nơi mà bất cứ khi nào ta cũng có thể gặp được những con người vô cùng đáng mến, những con người hào sảng sẵn sàng sẻ chia dù mình cũng đang thiếu thốn. Tôi đã gặp nhiều những mái ấm dành cho trẻ mồ côi, người bệnh, người già cô đơn trong các nhà Dòng nhưng luôn đầy ắp tình thương và tiếng cười. Những tô mì 0 đồng, những nồi cháo lặng lẽ tại các bệnh viện, hay những chiếc chăn ấm, những hộp xôi,... được đưa đến tận tay người vô gia cư nơi vỉa hè, gầm cầu,..vào những đêm mưa rét. Chính từ những điều giản dị ấy cho tôi nhận ra quê hương cũng chính là nơi tôi được đón nhận, được yêu thương và học cách yêu thương. Nên dù là phận người “tha hương” nhưng trong tôi luôn cảm thấy ấm áp. Và khi ấy, tôi học được cách trao đi những điều tốt đẹp cho tha nhân như một cách giữ gìn những giá trị mà quê mẹ vun đắp trong tôi.

“Quê hương chúng ta ở trên Trời”(Pl3,20) lời nhắc nhở của thánh Phao lô trong thư gửi tín hữu Phi-lip-phê một lần nữa xác tín rằng cùng đích của đời người là quê hương Thiên Quốc. Bởi thế thẳm sâu trong trái tim tôi, nếu quê mẹ là nơi cất giữ những ký ức đầu đời, là nơi tôi được nuôi dưỡng bằng lời kinh, tiếng hát và tình thân gia đình thì quê Trời chính là nơi tôi gửi gắm niềm hi vọng cuối cùng: được sống mãi trong tình yêu Thiên Chúa. Nơi ấy, tôi được gặp lại những người thân yêu, nơi ấy nỗi nhớ quê khắc khoải trở thành niềm hạnh phúc viên mãn đời đời.

Và nghe đâu đây trong gió thu hay từ trong tim tôi khẽ vang lên giai điệu của bài Thánh ca “Trần gian mờ ảo, muôn màu muôn ánh đèn nhưng hãy khắc ghi Nước Trời mãi là vĩnh cửu”( “Trần gian và Nước Trời” - st: Lm. Ant Minh Tâm) giai điệu ấy vẫn du dương thánh thót dù ngoài kia tiếng còi xe vẫn inh ỏi, phố phường vẫn tấp nập, nhộn nhịp và những ánh đèn vẫn lung linh, rực rỡ...


Sài Gòn, lễ thánh Gioan Phaolo II, 22/10/2026

Maria Mân Côi