
Một nhóm người Lương dân được ơn soi sáng tìm được niềm tin vào Đức Ki-tô. Vốn là dân cày ruộng nơi đồng chua, nước mặn, vùng sâu trũng, nên đời sống họ dựa vào hạt thóc, củ khoai, quanh năm vất vả trong việc tìm kiếm nguồn nuôi cuộc sống. Vị linh mục đã dẫn dắt họ. Ngài giúp đỡ những gia đình nghèo khó. Cho họ lương thực vào những ngày giáp hạt thiếu thốn. Ngài sống yêu thương và thánh thiện. Đức tin cháy sáng đã làm nên nghị lực mạnh mẽ cho tinh thần sống Đạo trong mỗi người. Xóm Đạo được hình thành từ đó. Ông Tuần tổ chức số người mới tin Đạo thành cuộc họp.
– Họ tộc nào trong mỗi làng cũng đều có nhà thờ họ, thì chúng ta cũng phải có một ngôi nhà riêng để thờ Chúa, ông nói.
Có một ngôi nhà nguyện riêng biệt là niềm ao ước của ông Tuần và gần chục hộ gia đình mới tin Đạo. Ai cũng rạo rực bừng lên quyết tâm phải làm sao để có một nơi thờ phượng Chúa. Họ nhường nhịn, cắt chia, hoán đổi để có mảnh đất, có nơi làm nhà cầu nguyện.
Sau mỗi mùa gặt, những cây rạ được cắt từ cây lúa đem phơi khô. Ban ngày bận đi làm nên lựa chọn vào những đêm trăng, dưới ánh sáng mát dịu của chị Hằng, mọi người đem rạ ra sân để kết tranh. Họ lựa chọn từng nắm rạ đẹp, phơi được nắng màu vàng tươi, gài kẹp vào những thanh tre thành từng chiếc tranh xinh xắn chuẩn bị cho ngày lợp mái. Ngôi nhà nguyện được những bàn tay dân cày cuốc dựng lên. Mái tranh, vách đất, cửa phên nứa. Trải qua bao thăng trầm đằng đẵng trong nỗi trông mong khao khát đợi chờ, thế là ngôi nhà nguyện đã hoàn thành. Dù chỉ là căn nhà đơn sơ, nhưng là kết quả của sự đồng lòng hy sinh từ ngọn lửa đức Mến, toát lên sự ấm cúng, là kết quả của lòng mong ước, sự nguyện cầu thầm thì mỗi ngày, mỗi nơi, mỗi lúc, và tinh thần phấn đấu không ngừng nghỉ của mọi người. Nhà nguyện chưa có bàn thờ, ông Tuần lấy chiếc bàn gỗ nhà mình, trải lên vuông vải trắng, đặt hai ngọn đèn dầu nho nhỏ để linh mục dâng lễ. Dấu ấn thiêng liêng được Thiên Chúa ban xuống. Cha xứ làm lễ khai sinh ra họ đạo quê tôi trong ngôi nhà nguyện đơn sơ bằng mái tranh rạ vách đất ấy.
– Sự gì Thiên Chúa đã khởi xướng, Người sẽ hoàn thành, cha nói.
Những người trong làng không theo Đạo chưa hiểu niềm tin nên tiếc thầm cho ông Tuần và những hộ gia đình kia đã đi theo niềm tin mới, nhưng họ không gây sức ép mà vẫn ăn ở thuận hòa. Ông Tuần nói với họ: “Chúng tôi tin vào Thiên Chúa tình yêu. Đó là niềm tin đúng đắn. Chúng tôi luôn cầu nguyện trong niềm hy vọng vào Chúa cho anh chị em sau này cũng tin Chúa như chúng tôi.”
Từ đó, người dân vẫn sống những ngày êm đềm theo phong tục ngàn đời của làng quê. Nhưng cũng kể từ ngày đó, cứ mỗi sáng khi gà vừa gáy le te, trâu bò còn nằm trong chuồng nhai lại bụng cỏ đã cần mẫn gặm được từ ban ngày, và khi hừng đông chưa ló rạng thì những người theo Đạo từ già cả, trẻ bé thơ đều thức dậy đến ngôi nhà nguyện đọc kinh và hát vãn. Nhà nguyện nền đất không có bàn quỳ. Mỗi người khi đi đọc kinh cầm theo cái mo cau đặt làm chỗ quỳ. Người nào khá giả thì mang theo chiếc chiếu gon cho nhiều người quỳ chung. Có những đứa trẻ theo cha mẹ đến nhà nguyện nhưng chỉ ngủ là chính. Ông Tuần có lần véo tai thức nó dậy. Ông cho rằng ngủ trước mặt Chúa là không được. Nhưng cha xứ lại bảo: “Nó thích đến với Chúa là tốt rồi. Ngủ trong nhà Chúa cũng tốt mà. Chúa không chấp trẻ con đâu.” Lời cha xứ thật là ấm áp ân tình. Thỉnh thoảng cha xứ lại đến dâng lễ. Con đường đất dẫn vào làng nhỏ hẹp, vào những ngày trời mưa lầy lội lắm. Cha xứ phải xắn quần lên gối mà đi. Ngày ấy dân làng còn nghèo lắm. Cả làng chỉ có vài người có xe đạp. Cha xứ cũng không có xe. Sự siêng năng, đạo đức, thánh thiện của cha xứ càng làm cho mọi người sốt sắng noi gương.
Những ngày làm phúc khi vào mùa đông mưa dầm, ông Tuần và mọi người vẫn rất vui mừng hưởng ứng. Những ngày ấy, ai cũng lo sắp xếp công việc để có đủ thì giờ tham dự việc thiêng liêng. Cha xứ bố trí những giờ tĩnh tâm, hướng dẫn mọi người trong đời sống đức tin, đời sống thiện lành công bằng, bác ái để làm chứng cho Chúa trong cộng đồng họ đang sống. Nhà nguyện không có chuông nên ông Tuần thay bằng cách gõ mấy tiếng trống báo hiệu giờ kinh lễ. Tiếng trống không vang xa được như tiếng chuông nhưng mọi người chú ý nên tham dự kinh lễ vẫn đúng giờ. Những ngày ấy thật vui, ngôi nhà nguyện nhiều người tham dự đọc kinh hơn, lời kinh cũng rộn ràng hơn và các bài ca vãn cũng được hát nhiều hơn. Có thầy giảng từ Đại Chủng viện về giúp cha xứ. Thầy tập hát cho giáo dân. Giáo họ ít người nên thầy tập hát chung cho cả nhà thờ. Họ hát không có đàn giữ nhịp nhưng họ hát bằng cả tâm hồn say sưa, nghe rộn ràng và sốt sắng lắm. Dù không có đàn đệm để nâng khúc nhạc cho hay hơn, nhưng Chúa cần tấm lòng sốt mến hơn muôn vàn tiếng đàn nhạc. Không chỉ hát trong nhà nguyện, người ta còn hát cả những khi làm công việc cho dễ nhớ. Nghe một người xướng lên, nhiều người họa theo. Có những người dân ngoại nghe vãn đến thuộc cả những bài hát về Đức Mẹ.
Dân Đạo ngày càng phát triển. Ngôi nhà nguyện ngày xưa bỗng thấy đã chật. Mái tranh lâu ngày mòn dột làm ướt người đọc kinh mỗi khi trời mưa trông thật tội. Cứ khoảng ba năm phải thay tranh một lần.
Bao đời cha xứ cũ đã chuyển đi, cha mới lại đến. Thương giáo dân còn nghèo, nhìn mái tranh rạ của ngôi nhà nguyện chóng mòn, cha xứ mới đã đem giống mía về cho bà con mấy giáo họ trong xứ trồng ở vùng đất cao thay cho trồng ngô khoai. Cây mía cho mật có thu nhập cao hơn. Ngôi nhà nguyện của giáo họ từ đó được lợp bằng tranh kết bằng lá mía sạch sẽ, đẹp và bền hơn tranh rạ. Giáo dân phấn khởi, nhưng vẫn ước mơ một ngày nào đó nhà nguyện có mái ngói.
Đến ngày ông Tuần cũng qua đời. Người khác lên thay làm trưởng họ Đạo. Cha xứ mới ngày nào giờ đã là cha cũ cũng thuyên chuyển đi xứ khác. Mùa mưa bão năm ấy, một cơn bão lớn, gió quật hỏng ngôi nhà nguyện. Mọi người buồn bã phải lo tính đến việc làm ngôi nhà thờ khác thay thế. Nhưng rồi chiến tranh đến. Kinh tế càng khó khăn, không có cơ hội làm nhà thờ nữa. Giáo dân không còn nơi đọc kinh. Ông trưởng họ nhắc mọi người: “Nếu Chúa không còn được nghe lời kinh chúng ta đọc dâng lên nữa thì Chúa buồn lắm. Là con cái Chúa, không đọc được nơi nhà nguyện thì đọc tại gia đình.” Và từ đó, nơi mỗi nhà có Đạo lại vang lên tiếng đọc kinh sáng tối nơi nhà mình.
Tuần làm phúc đến, phải mượn nhà của ông Hợi. Ông Hợi thời trước làm ăn khá, có ba gian nhà ngói để lại cho con cháu. Giáo họ mượn một gian cho cha xứ có nơi dâng lễ. Trong thánh lễ, cha nhắc mọi người:
– Chúng ta hãy hy sinh, tiết kiệm, chuẩn bị ngay từ bây giờ, một ngày nào đó sẽ xây dựng nơi thờ phượng Chúa. Hãy cầu nguyện và hy vọng vào tình thương của Chúa, chúng ta nhất định sẽ được thỏa nguyện trong tương lai.
Lời cha nói cũng rất phù hợp với lòng mong ước của mỗi người. Ai cũng đau đáu mang trong mình nỗi lòng mong ước. Trải qua bao phong ba bão tố nhưng ánh lửa đức tin vẫn cháy sáng không ngừng. Chiến tranh kết thúc. Giáo họ động viên nhau, mỗi người với tinh thần quyết tâm làm ngôi nhà thờ mới có tường xây cho ấm áp. Phải làm sao có ngôi nhà thờ đẹp hơn trước. Người ta đào đất đóng gạch, đắp lò nung vôi để làm vữa xây. Cùng xuất phát từ một dòng họ, anh em Lương dân trong làng cũng góp công, góp sức. Ngôi nhà thờ tường xây đã hoàn thành nhưng còn đơn sơ lắm. Cũng may khi đường điện quốc gia cũng vừa về đến vùng nông thôn. Ngày lễ tạ ơn, những ngọn đèn dầu ám khói dùng trước kia được xếp lại nhường cho đèn điện sáng trưng. Cha hạt về đồng dâng lễ với cha xứ. Bài chia sẻ của cha hạt trong lễ tạ ơn đã nhắc nhở với niềm tin vững vàng:
– Hãy luôn tín thác, hãy hy vọng vào Chúa vì Người luôn trọn tình thương. Ngoài trọng tâm là xây dựng ngôi đền thờ nội tâm trong linh hồn, hãy dâng ước mơ một ngôi thánh đường mới khang trang tiện nghi vào một tương lai không xa.
Bước vào thời đại mới, thời toàn cầu hóa. Sự giao hảo với nhiều quốc gia trên thế giới tạo ra nhiều thay đổi. Con em giáo họ có nhiều người đi xuất khẩu lao động nước ngoài. Nền kinh tế của giáo họ nhờ đó khởi sắc. Nhiều con em học đại học. Có người là sinh viên trường Đại Chủng viện của giáo phận. Niềm mơ ước càng nhiều hơn và lớn lao hơn. Mơ ước lòng đạo vẫn luôn kiên vững trước những hội nhập phần đời. Mơ ước trong giáo họ sẽ có người theo đường dâng hiến lãnh nhận chức thánh, nhưng vẫn còn một mơ ước từ bao đời, đó là có ngôi thánh đường khang trang, tiện nghi như cha hạt đã từng nói trong bài giảng lễ năm xưa.
Niềm hy vọng bao đời của bà con giáo dân đã được Thiên Chúa đoái thương chấp nhận. Ngôi nhà thờ mới được khởi công trong niềm hân hoan khôn tả. Các xứ bạn cũng luôn đồng hành, giúp công, ủng hộ tài chính. Những người anh em lương dân trong làng cũng chung tay góp sức. Sau 100 năm giáo họ thành lập, ngôi thánh đường mới như lòng mong ước của cha xứ đầu tiên và mọi người hy vọng đã được xây dựng kiên cố theo lối mới đã hoàn thành, có tháp chuông cao và có một quả chuông đồng thay cho tiếng trống ngày xưa. Ngày lễ khánh thành được Đức Giám mục giáo phận về dâng lễ tạ ơn. Người con của quê hương giáo họ cũng vừa thành linh mục. Và thánh lễ mở tay cũng được dâng tại ngôi nhà thờ này trong tâm tình cảm tạ ân lành bao la của Chúa luôn trọn tình thương với dân Người.
THANH CHI
Nguồn: vanthoconggiao