
“Bona bene”: Nhận biết đối tượng mà việc truyền thông hướng đến
“Bona bene”: Truyền thông cách khiêm nhường và chân thật
“Mala male”: Việc không chuẩn bị
“Bona male”: Thất bại trong truyền thông, hoặc sự im lặng tội lỗi
“Bona bene”: truyền thông thận trọng
“Bona male”: những điều đúng, nhưng nói với vẻ kiêu ngạo
“Bona male”: thuyết giảng hay và cư xử xấu
“Bona male”: Trình bày dài dòng và lộn xộn
“Bona male”: sự tìm kiếm quá mức sự công nhận
“Mala bene”: ngay cả những chủ đề nóng
“Mala male”: khen ngợi những người đáng bị khiển trách
Dẫn nhập
Đức Thánh Giáo hoàng Grêgôriô Cả (590-604) là một nhà truyền thông vĩ đại và muốn những mục tử các linh hồn cũng trở thành những nhà truyền thông hữu hiệu.[1] Điều này đòi phải có các quy tắc, một đạo đức trong việc truyền thông.[2] Ngày nay, chúng ta truyền thông mọi thứ, nhưng những vấn đề truyền thông vẫn còn: Người truyền thông là ai? Họ được đào tạo như thế nào? Ai là người đánh giá cho việc truyền thông đó tốt hay không? Đánh giá theo tiêu chuẩn nào? Làm thế nào để xác định được sự chân thật của thông tin?
Thánh Grêgôriô khẳng định có 4 cách truyền thông, và ngài trình bày điều này bằng tiếng Latinh, mà đối với chúng ta đó có thể là một cách chơi chữ, nhưng nó mang lại hiệu quả hơn bất kỳ bản dịch nào. Ngài viết: “Mọi việc truyền thông có thể diễn ra theo 4 cách: aut mala male, aut bona bene, aut mala bene, aut bona male” (Com Jb V, 23, 5). Dưới đây là cách ngài giải thích công thức này.
Mala male, xảy ra khi điều xấu (mala) được trình bày mà không bị lên án hoặc thậm chí còn được tán thành, và đây chắc chắn là cách truyền thông xấu (mala male).
Bona bene, xảy ra khi những điều tốt (bona) được truyền đạt một cách đúng đắn (bene), tức là những điều tốt được tán thành và cách truyền đạt giúp khuyến khích người khác làm điều tốt.
Mala bene, có nghĩa là một người có thể truyền đạt ngay cả những điều xấu tự bản chất của chúng (mala), miễn là người đó làm như vậy theo cách không tán thành chúng. Cách truyền thông này là tốt (mala bene).
Cuối cùng là cách truyền thông bona male. Cách này xảy ra khi chính nội dung truyền đạt là tốt (bona), nhưng được trình bày theo cách khiến cho nội dung tốt bị coi thường, bị chế giễu hoặc hạ thấp giá trị của nó. Cách truyền thông này là xấu (bona male).
Thánh Grêgôriô đưa ra một số ví dụ trong Kinh thánh về bốn cách truyền thông này. Theo đó, vợ ông Gióp rơi vào trường hợp đầu tiên (mala male), khi bà nói với chồng: “Hãy nguyền rủa Thiên Chúa và chết đi cho rồi!” (G 2,9). Trong thực tế, bà gợi ý một điều xấu (mala) là nguyền rủa Chúa và xúi giục chồng bà làm điều xấu đó (male), đó là cách truyền thông xấu.
Những lời rao giảng của Gioan Tẩy Giả rơi vào trường hợp thứ hai (bona bene), ông nói: “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần” (Mt 3,2). Ông Gioan Tẩy Giả công bố một điều tốt (bona) là Nước Trời, và chỉ ra cách đón nhận nó, đó là bằng sự hoán cải (bene).
Thánh Phaolô rơi vào trường hợp thứ ba (mala bene), khi ngài nói về tội chống lại lẽ tự nhiên (mala) để lên án nó (bene) (xem Rm 1,26-27: “Đàn bà không quan hệ theo lẽ tự nhiên, mà lại làm điều trái tự nhiên. Đàn ông cũng vậy, không quan hệ với đàn bà theo lẽ tự nhiên, mà lại đem lòng thèm muốn lẫn nhau : đàn ông bậy bạ với đàn ông. Như vậy là chuốc vào thân hình phạt xứng với sự lầm lạc của mình”).
Cuối cùng, trường hợp thứ tư (bona male) là những lời của người Pharisiêu nói với anh mù bẩm sinh: “Có mày mới là môn đệ của ông ấy!” (Ga 9,28), với ý định chế nhạo và nguyền rủa anh mù. Việc muốn trở thành môn đệ của Chúa Giêsu là một việc rất tốt (bona), nhưng cách chế nhạo ý định này là một điều xấu (male).
Đức Grêgôriô quan tâm đến cách truyền thông được thực hành trong Giáo hội. Vào thời ngài, việc này hầu như chỉ bao gồm việc rao giảng trực tiếp bằng miệng, và nhiệm vụ này được dành cho các “giáo sĩ”, tức là những người thi hành việc “chăm sóc” thiêng liêng cho các linh hồn. Đức Grêgôriô coi việc rao giảng là nhiệm vụ chính của linh mục; ngài coi đó là một nghệ thuật, hay đúng hơn là “nghệ thuật của các nghệ thuật” (RegPast 1, 1), vì nó liên quan đến con người, hay đúng hơn là liên quan đến các linh hồn.[3] Người ta không thể tức thời trở thành người mục tử chăm sóc tốt các linh hồn: đây là một “nghệ thuật” cần phải học và thực hành.
“Bona bene”: Nhận biết đối tượng mà việc truyền thông hướng đến
Yêu cầu đầu tiên của một người truyền thông tốt là cân nhắc không chỉ đến việc nên nói gì, nói khi nào và nói bao lâu mà còn đến đối tượng mà mình nói với. Trong phần thứ ba của sách “Regola pastorale” (quy tắc mục vụ), Thánh Grêgôriô mô tả 36 loại người nghe, được sắp xếp theo kiểu nhị phân, nên tổng cộng có 72 loại khác nhau. Sẽ là quá dài nếu liệt kê tất cả chúng ở đây, nên chúng ta hãy chỉ đưa ra một vài ví dụ.
Thánh Grêgôriô viết, để truyền thông hữu hiệu, phải tính đến tình trạng của người nghe, bởi vì có sự khác nhau trong việc nói chuyện với đàn ông hay phụ nữ, với người già hay người trẻ, người nghèo hay người giàu, người khỏe mạnh hay người bệnh tật, người đã kết hôn hay người độc thân, người chân thành hay người giả tạo: “Bất cứ ai rao giảng đều phải tính đến trình độ của những người lắng nghe, để làm cho lời giảng phát triển tương xứng với sự phát triển của người nghe” (ComGB 17, 38).
Vì vậy, sẽ là sai lầm nếu giải thích hoàn toàn bằng khoa học chuyên môn trước những người nghe mới vào nghề, mà không tính đến tình trạng đang trong quá trình học hỏi của họ: “Ai giảng dạy phải cẩn thận không giảng nhiều hơn những gì người nghe có thể hiểu được. Anh ta phải tự đặt ra giới hạn cho mình và hạ mình xuống ngang tầm người nghe, vì nếu nói những điều cao siêu với những đứa nhỏ thì lời nói của anh ta sẽ trở nên vô ích và dường như anh ta chỉ lo thể hiện bản thân hơn là giúp đỡ người nghe”. (ComGB 20, 4 ).
“Bona bene”: Truyền thông cách khiêm nhường và chân thật
Người truyền thông đích thực “cố gắng giải thích bằng lời nói của mình và thể hiện bằng cuộc sống khiêm nhường, vốn là thầy và là mẹ của mọi nhân đức, để trình bày chân lý đó cho các môn đệ bằng gương sáng hơn là bằng lời nói” (ComGB 23, 24 ). Sẽ thật thiếu sót khi “sở hữu đỉnh cao của khoa học mà từ chối ân sủng của đức khiêm nhường” (ComGB 26, 43).
Vì vậy, người truyền thông thực sự không bao giờ quên mình là ai: “Bất cứ ai nói về Thiên Chúa với con người trước hết phải nhớ rằng mình cũng chỉ là một người nghèo hèn yếu đuối trước Thiên Chúa, để từ sự nghèo hèn yếu đuối đó của chính mình, họ có thể tìm ra cách hướng dẫn những người anh em yếu đuối của họ. Do đó, chúng ta hãy xem mình bình đẳng với những người mà mình muốn sửa lỗi, hoặc mình đã từng như vậy, hay ngay cả khi nhờ tác động của ân sủng Thiên Chúa mà mình không còn như vậy nữa. Nhờ đó, chúng ta sửa lỗi với tấm lòng khiêm tốn, càng tiết chế thì chúng ta càng nhận ra bản thân mình nơi họ một cách chân thành hơn” (ComGB 23, 25).
Thay vào đó, “những nhà giảng thuyết kiêu ngạo rao giảng với một thái độ ngạo mạn về những gì họ tin rằng họ đã hiểu theo một cách hoàn toàn khác thường, thì việc rao giảng của họ không thể mạch lạc, bởi vì với niềm kiêu hãnh đáng ghét của mình, họ đang mâu thuẫn với chính những chân lý mà họ gieo bằng lời nói” (ComGB 24, 38). Ngược lại, “lời của những nhà giảng thuyết chân chính xuất phát từ cội rễ của lòng khiêm nhường và có khả năng trổ sinh hoa trái của lòng đạo đức; và không phải với lòng tự phụ, nhưng với lòng trắc ẩn, họ thu được bất cứ thứ gì thuận lợi mà họ có thể. Với sức mạnh của lòng bác ái, họ đồng cảm với người nghe hoặc người nghe đồng cảm với chính họ, như thể qua chính bản thân mình, họ nghe điều họ đã dạy, và họ dạy bằng lời nói những gì họ đã học” (ibid.).
“Bona bene”: nói tốt làm tốt
Việc rao giảng trước hết mang lại lợi ích cho những người thực hành rao giảng: “Thực vậy, người công khai loan báo điều tốt lành qua việc rao giảng sẽ nhận được sự phong phú nội tâm ngày càng gia tăng, và khi dấn thân sâu hơn vào việc mang lại cho tâm trí người nghe một chất say lành mạnh bằng rượu lời nói, thì chính người đó ngày càng say sưa với thứ rượu ân sủng ngày càng dồi dào hơn.” (RegPast 2, 25). Sự thật là trong việc truyền thông “người ta cảm thấy khó chịu nếu bị người nghe coi thường, hoặc cảm thấy kiêu căng nếu được người nghe đón nhận” (ComGB 19, 22). Tuy nhiên, không phải là kiêu ngạo khi người rao giảng vui mừng về kết quả tốt lành từ lời rao giảng của mình.
Hơn nữa, không có gì sai khi những người vất vả rao giảng được khen thưởng xứng đáng, “không phải vì hoạt động rao giảng nhằm mục đích để sinh sống, nhưng vì nhu cầu sinh sống là có lợi cho việc rao giảng. Do đó, những người rao giảng chân chính không tham gia rao giảng để kiếm sống, nhưng là đón nhận sự nuôi sống vì mục đích rao giảng” (ibid.).
“Mala male”: Việc không chuẩn bị
Trở ngại đầu tiên đối với việc truyền thông tốt xảy ra khi bản thân người phát ngôn không được chuẩn bị, bởi vì cuối cùng anh ta cũng sẽ truyền đạt những điều sai trái hoặc sai lầm: “Không ai có thể dạy một nghệ thuật mà không học nó với sự dấn thân mãnh liệt trước tiên” (RegPast 1, 1). Sẽ giống như thể một người chỉ có một ít thuốc men đã được phong làm bác sĩ: “Sự thiếu chuẩn bị của những mục tử sẽ bị kết án bởi tiếng nói của Đấng là Sự Thật, như khi vị ngôn sứ nói: đó là “thứ mục tử chẳng biết phân biệt gì” (Is 56,11). Chính Chúa loại bỏ họ khi Người nói: “Ngay cả các chuyên viên Lề Luật cũng chẳng biết đến Ta” (Gr 2,8)” (ibid.). Tuy nhiên, một số người, mặc dù biết rằng họ chưa được chuẩn bị, bị thúc đẩy bởi tham vọng, “với lý do là mục vụ, họ nhắm đến việc đạt được danh dự, họ mong muốn được coi là bậc thầy” (ibid.). Họ là những nhà truyền thông “nghèo về ý tưởng và ngôn từ” (ComGB 8, 58). Bằng cách này, họ trở thành “những kẻ dẫn đường đưa đến sự diệt vong” (RegPast 1, 2).[4]
Mặt khác, “có một số người có phẩm chất đạo đức cao và nổi bật với những phẩm chất tuyệt vời trong việc hướng dẫn người khác: họ trong sạch do giữ đức khiết tịnh, vững chắc do nghiêm túc hy sinh hãm mình, được trang bị với kho tàng kiến thức giáo lý, khiêm tốn do vô cùng kiên nhẫn, đứng đắn trong sử dụng sức mạnh của quyền bính, nhân từ do ân sủng của lòng đạo đức, cẩn thận trong việc giữ tính nghiêm khắc của công lý”, thế nhưng “họ lại từ chối gánh nặng rao giảng” (RegPast 1, 5). Nhưng khi chính Thiên Chúa thực sự kêu gọi, thì việc từ chối không phải là sự khiêm nhường thực sự, và nó có thể che giấu niềm kiêu hãnh, và trong mọi trường hợp này là thiếu tình yêu: “Khi Chúa Giêsu nói với Phêrô: “Này anh Simôn, con ông Gioan, anh có mến Thầy không?”, sau khi trả lời ngay rằng mình yêu mến Thầy, thì Phêrô được nghe Thầy nói: “Nếu anh yêu mến Thầy, thì hãy chăn dắt chiên của Thầy” (Ga 21,15-16). Vì vậy, nếu sự dấn thân mục vụ là bằng chứng của tình yêu, thì bất cứ ai dù có tài năng nhưng từ chối chăn dắt đoàn chiên của Chúa là dấu hiệu cho thấy người đó không yêu mến Chủ chiên là Chúa Giêsu” (ibid.).
“Bona male”: Thất bại trong truyền thông, hoặc sự im lặng tội lỗi
Truyền thông kém xảy ra ở nhiều khía cạnh khác nhau, chẳng hạn như khi một người “nói giỏi nhưng tư duy không sâu sắc, tư duy sâu sắc nhưng không thể nói được hai từ” (ComGB 8, 58). Cũng có trường hợp vì sơ suất, lười biếng hoặc sợ hãi mà không nói được điều nên nói. Giống như “một bác sĩ nhìn thấy một vết thương cần được chữa trị nhưng lại từ chối làm điều đó; vì sự lười biếng này chắc chắn anh ta sẽ có tội trong cái chết của một người anh em” (RegPast 3, 25). Điều này cũng áp dụng cho những mục tử chăn dắt các linh hồn: “Do đó, họ hãy biết rằng tội lỗi xảy ra khi một người biết các vết thương tâm hồn và từ chối chữa lành các vết thương đó bằng sự can thiệp của lời Chúa” (ibid.).
Trong các Tin Mừng, nhiều lần Chúa quở trách những tôi tớ lơ là trong công việc: “Chúng ta nhớ đến người đầy tớ lười biếng, không tận dụng nén bạc mình nhận được và bị tước mất nén bạc đó” (ibid.). Vì vậy, những ai “lấy đi lời rao giảng cho anh em đang phạm tội là tước mất phương thuốc cứu sống họ, khi họ sắp chết” (ibid.). Nếu người dân đang chịu nạn đói mà các địa chủ lại giấu thóc đi, thì các địa chủ đó sẽ phải chịu trách nhiệm về cái chết của người dân. Thế thì, điều gì sẽ xảy ra “nếu các linh hồn chết vì đói Lời Chúa, mà những nhà rao giảng lại không phân phát bánh ân sủng mà họ đã nhận được?” (sđd.).
Đối với Đức Grêgôriô, việc bỏ bê sứ vụ rao giảng là một tội nặng. Những người im lặng thì bỏ qua những dịp mà họ phải lên tiếng: “Những người được giao phó cho chúng ta đều rời bỏ Thiên Chúa mà chúng ta vẫn im lặng sao! Họ dối trá trong những hành động xấu xa của họ mà chúng ta không đưa tay ra để sửa chữa họ sao! Mỗi ngày họ bị diệt vong vì những tội lỗi của họ, và chúng ta thấy họ hướng tới hỏa ngục mà chúng ta không hề buồn lòng sao!” (OmVang I, 17, 14). Chuyện thường xảy ra là “điều gì nên im lặng thì lại nói, điều gì nên nói thì lại im lặng” (RegPast 2, 4). Một “lời nói táo bạo” có thể dẫn người nghe đến chỗ mắc sai lầm, nhưng “sự im lặng tội lỗi cũng có thể khiến những người lẽ ra phải được dạy dỗ mắc sai lầm”. Trên thực tế, thường “vì sợ mất đi sự ưu ái của dân chúng, các mục tử vô trách nhiệm sợ nói thẳng những gì cần nói” (ibid.). Họ giống như những người lính đánh thuê, “nếu sói đến, họ bỏ chạy, trốn trong im lặng. Chúa quở trách họ bằng những lời này qua miệng vị ngôn sứ: “Cả bọn chúng là lũ chó câm, không biết sủa” (Is 56,10)” (ibid.). Họ “không biết cách chống lại những kẻ quyền lực của thế gian này bằng tiếng nói tự do, ủng hộ đàn chiên” (ibid.). “Sợ công bố sự thật, đối với một mục tử thì chẳng khác gì việc bỏ chạy trong sự im lặng?” (sđd.). “Linh mục không rao giảng thì giống như người báo tin im lặng” (ibid.).
Sau đó, Đức Giáo hoàng Grêgôriô khiêm tốn yêu cầu xin các tín hữu cầu nguyện cho mình, để với tư cách là một người rao giảng, ngài không trốn tránh nhiệm vụ của mình: “Hãy cầu nguyện cho chúng tôi, để chúng tôi có thể phục vụ cho anh em một cách thích hợp, để lưỡi không bị kẹt trong khi khuyên răn, và sự im lặng của chúng tôi không lên án chúng tôi – những người đảm nhận chức vụ giảng dạy – trước vị thẩm phán công chính” (OmVang I, 17, 3). Đôi khi người rao giảng im lặng vì tội lỗi của mình; đôi khi chính tội lỗi của con người đã ngăn cản lời nói. Tuy nhiên, “chúng ta biết chắc chắn rằng sự im lặng của mục tử đôi khi làm hại chính mình và luôn làm hại các tín hữu được giao phó cho mình” (ibid.).
“Bona bene”: truyền thông thận trọng
Tuy nhiên, khi truyền thông, đôi khi cần có sự dè dặt thích hợp và phải thận trọng. Thánh Grêgôriô viết: “Nhiều điều phải được che giấu một cách thận trọng, đồng thời cần làm rõ mọi điều được công khai. Kẻ có tội đã bị công khai và đã được tha thứ sẽ xấu hổ khi gia tăng tội lỗi của mình. Nhiều lỗi lầm, ngay cả những lỗi lầm ai cũng biết, cũng đòi hỏi sự nhẫn nại trong tâm hồn, không có cơ hội cho một sự sửa chữa chỉ bên ngoài. Khi bạn cố gắng điều trị vết thương cấp tốc, bạn chỉ khiến vết thương trở nên tồi tệ hơn. Thuốc dùng sai thời điểm chắc chắn sẽ mất tác dụng” (RegPast 2, 10).
Những người nói trước công chúng thường chỉ thể hiện sự kém cỏi hoặc ngu ngốc của mình, bởi rất khó tìm được người vừa có năng lực vừa thông minh. Vì lý do này, người giảng thuyết tốt lành “rất lo sợ cho chính mình những gì được thể hiện bằng lời nói; và thấy rằng im lặng là an toàn hơn nhiều, nếu được phép, ông muốn im lặng, và ông coi những người sống âm thầm với chức vụ nhỏ bé trong Hội Thánh là hạnh phúc hơn” (ComGB 23, 8). Tuy nhiên, “ông vẫn chấp nhận nhiệm vụ rao giảng khi cần thiết, bởi vì sức mạnh của đức ái buộc ông phải lên tiếng bảo vệ Hội Thánh, nhưng khuynh hướng của ông là im lặng. Trong khi chờ đợi để phục vụ bằng lời, linh hồn của ông tận hiến cho sự thinh lặng” (ibid.).
“Bona male”: những điều đúng, nhưng nói với vẻ kiêu ngạo
Thái độ thứ hai làm tổn hại đến chính truyền thông, khiến nó không hiệu quả hoặc phản tác dụng, đó là thái độ của những người nói sự thật, nói những điều đúng, nhưng theo cách kiêu ngạo: “Ngay cả trong Hội Thánh cũng có nhiều người không quan tâm đến việc truyền đạt một cách đúng đắn những điều họ biết” (ComGb, Pref. 19), nghĩa là “họ không biết cách truyền đạt một cách khiêm tốn những điều họ dạy” (ComGb 23, 23).
Có những người có đức tin không thể chê trách được, nhưng lại kiêu ngạo: “Theo đức tin chính thống thì họ ở trong Giáo hội, nhưng tính kiêu ngạo ngăn cản họ được Thiên Chúa đón nhận” (ibid.). Những người này “tuyên bố tin đúng vào Thiên Chúa, nhưng với lòng kiêu ngạo của mình, họ đẩy Ngài ra xa” (ibid.). Kẻ kiêu ngạo, “càng cho mình là công chính trong mắt mình, họ càng trở nên gay gắt trước nỗi đau của người khác. Họ không biết chuyển nỗi đau khổ về sự yếu đuối của người khác vào mình và thương xót sự yếu đuối của người khác như thể đó là sự yếu đuối của mình. Nhưng vì họ đề cao bản thân nên họ hoàn toàn không có khả năng đặt mình ngang hàng với những người khiêm tốn" (ComGB 26, 6).
“Bona male”: thuyết giảng hay và cư xử xấu
Một cách khác để hủy hoại sự truyền thông tốt là cư xử khác với những gì được nói: “Vì vậy, nếu ai đó, ở trong chức vụ đòi hỏi sự thánh thiện, mà hủy hoại người khác bằng lời nói hoặc bằng gương xấu của mình, thì tốt hơn là người đó nên thực hiện các công việc thế tục và mặc trang phục thế tục, hơn là vì đảm nhận các chức vụ thiêng liêng mà trở thành gương xấu cho người khác qua lỗi lầm của mình” (RegPast 1, 2). Thực ra, “lời nói của kẻ coi nhẹ hạnh kiểm không dễ được chấp nhận” (OmEz I, 3, 4). “Người giảng thuyết chân chính không đạt đến sự hoàn hảo nếu cuộc sống của anh ta không hoàn toàn hòa hợp với lời nói của anh ta. Vì thế, trong việc rao giảng, lời nói và cuộc sống phải hoàn toàn hòa hợp với nhau” (ComJb 31, 44).
Trên thực tế, “người làm trước rồi nói mới dạy dỗ một cách có thẩm quyền. Khi lương tâm kiềm chế cái lưỡi, thì nó lấy đi sự tự tin trong việc truyền thông” (ibid.). “Chúng ta giảng cho người khác một cách trung thực những gì là đúng, nếu lời nói đi kèm với lời chứng thực tế” (OmVang I, 17, 10).
Vì vậy, người có nhiệm vụ rao giảng “phải siêng năng xem xét mọi điều mình nói, để không trở nên kiêu ngạo về những gì mình giảng một cách đúng đắn, nhờ đó cuộc sống không bị xung đột với ngôn ngữ và không để xảy ra trường hợp rao giảng tốt mà làm điều xấu, theo đó người rao giảng sẽ đánh mất trong mình sự bình an mà mình loan báo cho Giáo hội” (ComJb 23, 8).
“Bona male”: Trình bày dài dòng và lộn xộn
Ngay cả một lối trình bày dài dòng và vô tổ chức cũng làm hỏng sự truyền thông: “Thường thì hiệu quả của lời nói sẽ mất đi khi nó bị suy yếu bởi lối nói dài dòng không phù hợp và bất cẩn, làm mất danh dự của chính người giảng vì ông ta không giúp ích cho người nghe” (RegPast 2, 4). Việc quan tâm của các mục tử - nhà giảng thuyết không những phải là không nói những điều có hại cho đức tin “mà còn tránh những bài giảng dài dòng, không có vần điệu, không có đầu đuôi. Thường thì sức mạnh của bài giảng sẽ mất đi hiệu quả khi nó dài dòng, thiếu suy nghĩ và không phù hợp” (ibid.). Một lời hữu hiệu có nghĩa là lời đó “thích hợp cho sự tiến bộ tâm linh của người nghe”, có khả năng trở thành “hạt giống cho sự suy ngẫm trong tương lai” (ibid.).
Người giảng thuyết thực sự là “người gieo lời”. “Sự trật tự trong lời nói tạo ra những suy tư thánh thiện trong tâm hồn các tín hữu, trong khi sự ba hoa liều lĩnh gieo hạt giống không mang lại lợi ích mà còn gây bất lợi cho các tín hữu” (ibid.). Đúng là Thánh Phaolô đã viết cho Timôthê: “Trước mặt Thiên Chúa và Đức Kitô Giêsu, … tôi tha thiết khuyên anh: hãy rao giảng lời Chúa, lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện” (2 Tm 4,1-2); tuy nhiên, trước khi nói “lúc không thuận tiện”, thánh Phaolô nói “lúc thuận tiện”, bởi vì “trong tâm trí người nghe, lúc thuận tiện sẽ bị trôi qua nếu không biết tìm ngôn ngữ thích hợp” (ibid.).
Nếu mục tử có nhiệm vụ công bố Lời Chúa, thì việc rao giảng cách tùy tiện sẽ thật là thiếu sót: rao giảng là một nghệ thuật phải được trau dồi một cách cẩn thận. Đức Grêgôriô nói, điều cần thiết là “khi mục tử chuẩn bị phát biểu, ông ấy phải làm điều đó một cách hết sức thận trọng và chú ý. Để mình bị cuốn vào sự nóng nảy và bốc đồng trong lời nói có thể làm tổn thương trái tim của các tín hữu bằng sự sai lầm. Đôi khi có người, với mong muốn tỏ ra mình khôn ngoan, thì lại phá vỡ sự hiệp nhất giữa các tín hữu một cách dại dột. Vì thế, Chúa Giêsu đã nói: “ai nấy sẽ được luyện bằng lửa như thể ướp bằng muối” (Mc 9,49). Muối biểu thị sự khôn ngoan của lời nói. Do đó, bất cứ ai bắt đầu thảo luận về các chủ đề đã học, phải cẩn thận để lời nói của mình không làm tổn hại đến sự thống nhất trong đức tin của người nghe" (RegPast 2, 4). “Tâm hồn người nghe thường bị bối rối vì quá nhiều lời nói “ (ComJb 17, 38).
“Mala male”: “Tin giả”
Thủ đoạn của những kẻ truyền tin giả là trộn lẫn tin thật với những tin nghe có lý nhưng vô căn cứ khác, nhằm làm người nghe mất phương hướng: “Họ thường trộn lẫn những điều thật với những điều giả, để lời nói dối của họ dễ tin hơn vì điều gì đó đúng có thể được nhận ra” (ComGB 23, 27). “Người kiêu ngạo có điểm chung là khi họ cường điệu trong lời chê bai, họ cũng nói dối trong khi chê bai; và khi họ không thể phê bình một cách đúng đắn những sự vật như chúng vốn có, thì họ chỉ trích những thứ không tồn tại, dùng đến những lời nói dối” (ComGB 26, 16).
Giọng điệu trong lời nói cũng nghe giả dối khi những lời thiêng liêng xen lẫn những lời trống rỗng: “Người kiêu ngạo có điều này trong mình, đó là khi nói những điều chân thật và thiêng liêng, thì ngay lập tức, vì lòng kiêu ngạo, họ pha vào đó những cách diễn tả trống rỗng và kiêu ngạo.” (ComGB 24, 36). Nhưng người nghe, nếu không ngu ngốc, sẽ nhận ra sự đạo đức giả này và không tôn trọng mà khinh thường người nói. Kết quả là “khi những lời ngu xuẩn trộn lẫn với những lời lẽ khôn ngoan, thì người nghe khinh thường sự ngu xuẩn, và thậm chí khinh thường luôn sự khôn ngoan” (ComGB 23, 28).
Những người truyền thông đích thực, giống như các tiên tri thật, khi họ nhận ra mình đã nói điều gì đó không đúng, thì ngay lập tức họ có khả năng sửa sai chúng, trong khi những người truyền thông giả, giống như các tiên tri giả, “kiên trì trong sự giả dối của mình” (OmEz I, 1, 17). Vì vậy, xảy ra trường hợp “kẻ rao giảng sai lầm dựa vào khả năng hùng biện của mình, điều này thổi phồng người đó và khiến người đó khinh thường người khác: khinh thường mọi người, người đó tự cho rằng mình là người thầy duy nhất” (ComGB 17, 6).
“Bona male”: sự tìm kiếm quá mức sự công nhận
Ngày nay trên mạng xã hội, chúng ta đếm số lượt thích nhận được, tức là các dấu hiệu của sự công nhận. Thái độ này biểu thị việc tự yêu mình quá mức, dẫn đến sự tự quy chiếu, như Thánh Grêgôriô đã lưu ý: "Những người này không quan tâm đến cuộc sống của người nghe mà quan tâm đến thành công cá nhân của chính họ, vì họ chỉ biết cách nói những gì gây ra tiếng vỗ tay" (ComGb 8, 72) . Như vậy, cuối cùng chúng ta đã xuyên tạc Lời Chúa (xem 2 Cr 2,17): “Kẻ ngoại tình không tìm kiếm con cháu mà tìm khoái cảm trong sự kết hợp xác thịt. Như vậy, kẻ phục vụ cho sự kiêu ngạo là kẻ hư hỏng xuyên tạc lời Chúa, bởi vì qua việc rao giảng thiêng liêng, hắn không muốn sinh con cái cho Chúa, mà chỉ muốn thể hiện sự hiểu biết của mình” (ComJb 16, 74) .
Tất nhiên, người ta có thể khoe khoang những điều mình nói đúng, miễn là anh ta không chỉ nhằm mục đích nhận được những tràng pháo tay mà còn khuyến khích người nghe chấp nhận sự thật. Tuy nhiên, kẻ kiêu ngạo “là những người không có được sự công nhận của lương tâm mình trước mặt Thiên Chúa, họ tìm kiếm sự công nhận của một tiếng nói khác trước mặt loài người, và nếu không tìm được điều đó ngay lập tức, thì họ cố gắng nhận được nó thậm chí một cách trơ trẽn: nếu thực sự họ không tìm thấy tiếng nói công nhận của những người mà họ khao khát chờ đợi, thì chính họ cũng tự ca tụng kiến thức của mình” (ComGB 16, 42).
“Mala bene”: ngay cả những chủ đề nóng
Người giảng thuyết cũng phải đề cập đến những chủ đề nóng bỏng, chẳng hạn như những vấn đề liên quan đến tình dục, để đào tạo một lương tâm đúng đắn. Tuy nhiên, nói chuyện với những người đã có trải nghiệm tình dục tiêu cực là một chuyện, truyền thông với những người không biết về trải nghiệm đó là một chuyện khác (xem RegPast 3, 28). Đối với những người đã trải nghiệm thì phải được mời “suy ngẫm với sự chú ý tỉnh táo về lòng nhân từ mà Thiên Chúa, và nhờ đó đón nhận lòng thương xót sâu xa của Ngài cho chúng ta nếu chúng ta quay lại với Ngài sau khi phạm tội” (ibid.). Người không có trải nghiệm thì phải được khuyên răn đừng coi mình cao hơn người khác, cũng bởi vì họ luôn dễ bị cám dỗ, và hơn nữa, chỉ duy trì một cuộc sống không tội lỗi, mà không sinh hoa trái thì chưa đủ: “Một cuộc sống sám hối đầy yêu thương sau khi phạm tội thường làm đẹp lòng Chúa, hơn là một trạng thái vô tội mà tê liệt trong sự an toàn.” (ibid.).
Đối với Thánh Grêgôriô, năm giác quan – thị giác, thính giác, vị giác, khứu giác và xúc giác – “là những cách mà qua đó linh hồn có thể thoát ra ngoài và khao khát những gì không thuộc về bản chất của nó” (ComJb 21, 4). Các giác quan giống như các cửa sổ của tâm hồn, và có thể xảy ra trường hợp “cái chết đi qua các cửa sổ này và đột nhập vào nhà, khi dục vọng, vốn sinh ra qua các giác quan của thể xác, xâm nhập vào nơi ở của linh hồn” (ibid.). Cho phép bản thân nhìn mọi thứ một cách bất cẩn và không kiểm soát có thể gây ra những hậu quả tàn khốc: “Người nào bất cẩn nhìn ra ngoài qua cửa sổ cơ thể, hầu hết, thậm chí không muốn, sẽ rơi vào niềm vui tội lỗi và bị quyến rũ bởi những ham muốn, bắt đầu muốn những gì mình không muốn” (sđd.). Có một cái gì đó trẻ con hay thiếu trưởng thành khi không biết cách kiểm soát cái nhìn của mình: “Sức hấp dẫn của xác thịt rất mạnh mẽ và một khi một hình dáng đẹp đẽ đã gắn chặt vào trái tim qua đôi mắt, thì cần phải đấu tranh gian khổ mới vượt thắng và xóa nó được” (ibid.). Vì vậy, “để bảo vệ sự trong sạch của tâm hồn, cũng cần phải tuân theo kỷ luật của các giác quan bên ngoài” (ibid.).
Những suy tư của thánh Grêgôriô là có giá trị nếu chúng ta xem xét dữ liệu về số lượng các trang web khiêu dâm trên internet và tình trạng nghiện nội dung khiêu dâm, ngay cả ở những người trẻ nhất. Ngày nay không có tệ nạn nào khác mà có nhiều không gian công cộng trên internet như vậy.
“Mala male”: khen ngợi những người đáng bị khiển trách
Chắc chắn cách sử dụng lời quở trách là khó sử dụng nhất, và do đó nhiều người giảng tránh nó. Đức Thánh Giáo hoàng Grêgôriô nhấn mạnh sự thiếu sót này, dựa vào một bản văn Kinh thánh: “Ngôn sứ của ngươi tỏ cho ngươi thấy toàn điều hư ảo, toàn chuyện khói mây, còn lỗi lầm ngươi, chúng không vạch rõ để đảo ngược vận số của ngươi. Điều chúng thấy là điều huyền hoặc, chỉ đưa ngươi vào ảo tưởng mà thôi (Ai ca 2,14)”, và bình luận: “Kinh thánh khiển trách những người đã nhìn thấy những điều sai trái, bởi vì, thay vì khiển trách tội lỗi, thì vì sợ hãi, họ lại xu nịnh kẻ có tội một cách vô ích, đảm bảo rằng họ không bị trừng phạt” (RegPast 2, 4).
Do đó, nhiệm vụ của mục tử – nhà giảng thuyết là sửa dạy như một người cha sửa dạy con mình, nghĩa là, theo cách xây dựng, không phá hoại. Tuy nhiên, thật không may, Thánh Grêgôriô nói, “ngôn ngữ khiển trách vẫn chưa được biết đến, trong khi nó có thể là chìa khóa mở ra nhận thức. Trên thực tế, lời khiển trách vạch trần một lỗi lầm mà sự tồn tại của lỗi lầm đó thường không được người phạm tội nhận ra” (ibid.). Tuy nhiên, “những nhà giảng thuyết chân chính, khi họ nghiêm khắc sửa dạy, cũng không đánh mất ân sủng ngọt ngào nội tâm” (ComJb 24, 42). Họ cư xử giống Chúa Giêsu: “Họ khóc thương mạng sống của các tội nhân, như Chúa Giêsu khóc thương Giêrusalem (Lc 19,41); họ vui hưởng những việc làm tốt lành của những người được giao phó cho họ và yêu thương những người hành động ngay chính, như Đấng Cứu Chuộc của chúng ta đã yêu thương chàng trai trẻ đã nói rằng anh ta đã tuân giữ các điều răn từ thuở nhỏ; họ chịu đựng những lời xúc phạm và không đáp trả lại, cũng như Chúa Giêsu đã không đáp trả sự xúc phạm đó, nhưng đáp lại bằng sự hiền lành; họ bừng cháy lòng nhiệt thành đối với công lý, như Đấng Cứu Chuộc đã làm roi dây, đuổi những người mua bán ra khỏi đền thờ, lật đổ các quầy bán hàng và ném tiền của những người đổi tiền xuống đất; ngay cả khi họ hành động một cách hăng hái, thì họ cố gắng bằng mọi cách để duy trì sự khiêm nhường, như Đấng Cứu Thế đã nói: “Hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng” (Mt 11,29); họ cũng yêu thương những kẻ bách hại họ, như Chúa đã chuyển cầu cho những kẻ bách hại Ngài trong cuộc khổ nạn; họ giúp cho những người được giao phó cho họ đón nhận những đau khổ vì anh em mình, giống như Chủ tể sự sống đã hiến thân mình cho đến chết vì sự sống của những người được tuyển chọn” (OmEz I, 2, 19).
Tùy theo hoàn cảnh, chúng ta phải xem thái độ nào là hữu ích nhất: “Các nhà giảng thuyết thánh thiện biết cách tiết chế nghệ thuật giảng dạy bằng một biện pháp kép: khi thấy mình phải đối mặt với một lỗi lầm, có khi họ biết cách nghiêm khắc sửa chữa, có khi lại khiêm tốn tránh né” ( ComGb 24, 42). Thay vào đó, những kẻ kiêu ngạo muốn bắt chước họ, “hay dùng những lời khiển trách gay gắt, nhưng không biết cách nhận lấy những lời cầu nguyện lấy cảm hứng từ sự khiêm nhường. Họ có xu hướng khủng khiếp hơn là nhẹ nhàng. Và vì không biết cách bình tĩnh khiển trách kẻ có tội, họ không thể kiềm chế được cơn giận dữ khiến họ phải chỉ trích gay gắt quá mức ngay cả đối với những người cư xử tốt” (ibid.).
“Bona bene”: lời bừng cháy
Cuối cùng, để có hiệu quả, truyền thông phải “bừng cháy”, lời nói phải “đốt cháy những trái tim muốn chạm vào”, phải làm cho trái tim “cháy bỏng khát khao”, và điều này xảy ra khi các nhà rao giảng nói về “quê hương thiên đường” (OmEz I, 3, 5). Và để đây không phải là lối hùng biện trống rỗng, nơi ngôn từ đã mất đi sức nặng của chúng, ngay cả những cách diễn đạt đơn giản cũng đủ, miễn là chúng đến từ những người “là những người đầu tiên cảm nhận được tất cả sự nhiệt thành” (ibid.). Trên thực tế, “những lời nói xuất phát từ trái tim nguội lạnh không thể khơi dậy trong người nghe lòng khao khát những thực tại thiên đường” (ComJb 8, 72).
Vì lý do này “Thần Khí Thiên Chúa hiện ra dưới hình lưỡi lửa, bởi vì Thánh Thần làm cho tất cả những ai được Thần Khí đổ xuống đều hăng hái và sẵn sàng nói. Những người rao giảng đức tin có lưỡi lửa, bởi vì khi họ loan báo Thiên Chúa là Đấng đáng được yêu mến, họ làm cho tâm hồn những người nghe họ tràn đầy nhiệt thành. Lời nói của người giảng dạy sẽ lãng phí nếu không làm bùng lên được ngọn lửa tình yêu” (OmVang II, 30, 5). “Thật vậy, vì lý do này, Chúa Thánh Thần đã ngự xuống dưới hình dạng các lưỡi lửa trên các mục tử đầu tiên và sau khi đổ đầy chính Ngài vào họ, ngay lập tức khiến họ có khả năng trở thành sứ giả của Ngài” (RegPast 2, 4).
Kết luận
Sau Thánh Grêgôriô Cả, có lẽ không có vị giáo hoàng nào nhấn mạnh nhiều đến việc rao giảng như một “nghệ thuật” truyền đạt Tin Mừng như Đức Thánh Cha Phanxicô, người đã nêu gương bằng chính việc rao giảng của mình. Phần lớn tông huấn Evangelii gaudium (EG) được dành riêng cho chủ đề này.[5] Mặc dù Thánh Grêgôriô Cả không bao giờ được đề cập đến, nhưng nhiều điểm trong tông huấn trùng hợp với giáo huấn của thánh nhân.
Vì thế, về bài giảng, Đức Phanxicô nhận thấy rằng cả các tín hữu lẫn các thừa tác viên có chức thánh đều “khổ sở vì các bài giảng: giáo dân khổ vì phải nghe các bài giảng, còn các giáo sĩ khổ vì phải giảng bài” (EG 135); Điều này đòi hỏi lời của người giảng thuyết không chiếm quá nhiều không gian (EG 138); “Cuộc đối thoại giữa Chúa và dân của Người, phải được khuyến khích bởi sự gần gũi của giảng viên, sự ấm áp của âm giọng, sự đơn sơ không phô trương trong cách nói, và sự vui vẻ trong các điệu bộ của giảng viên” (EG 140). Và một lần nữa: “Giảng với sự hội nhập văn hoá cần phải đối diện với thách thức là công bố một tổng hợp, chứ không phải các ý tưởng hay các giá trị rời rạc. Tổng hợp của bạn ở đâu thì lòng trí bạn ở đó. Sự khác biệt giữa những người có một tổng hợp sáng suốt với những người chỉ có những ý tưởng rời rạc thì giống như sự khác biệt giữa sự sốt sắng và sự nhàm chán” (EG 143).
Chúng ta có thể tiếp tục rất lâu với những câu trích dẫn, hai vị Giáo hoàng rất giống nhau trong lời dạy của họ, bất chấp sự khác biệt về ngôn ngữ và thời đại. Đức Phanxicô cũng nói về “nghệ thuật”, nhưng áp dụng nó vào việc đồng hành thiêng liêng, điều được khuyến khích kèm theo lời cảnh báo này: “Đồng hành với họ sẽ phản tác dụng nếu sự đồng hành này chỉ là một loại liệu pháp hỗ trợ sự tự mãn của họ và không còn là một cuộc lữ hành với Đức Kitô để đến với Chúa Cha” (EG 170).
Ước gì những suy tư của hai vị Giáo hoàng này về nghệ thuật rao giảng cũng mang lại những ý tưởng có giá trị cho những người làm việc bên ngoài phạm vi Giáo hội, trong không gian công cộng! Truyền thông tốt khi nó chân thật, nhưng việc tìm kiếm sự thật không hề dễ dàng và đòi hỏi kỷ luật tinh thần nghiêm khắc và đạo đức sâu sắc.
Nguồn: hdgmvietnam
Tác giả: Lm. Enrico Cattaneo, SJ
___________
[1] Grêgôriô từ chối danh hiệu Thượng phụ oecumenicus, mà một số người muốn phong cho ngài, ngài chọn tự ký tên là Servus servorum Dei. Vẫn còn giá trị là chuyên khảo của V. Paronetto, Grêgôriô Cả, Một bậc thầy về nguồn gốc Kitô giáo ở Châu Âu, Rome, Studium, 1985.
[2] Chúng ta sẽ sử dụng những tác phẩm này của Thánh Grêgôriô Cả: Quy tắc mục vụ (= RegPast); Chú giải đạo đức về Job (= ComGb); Bài giảng về Ezekiel (= OmEz); Bài giảng Tin Mừng (OmVang). Tất cả những tác phẩm này, với bản dịch tiếng Ý, được in trong Tác phẩm của Grêgôriô Cả, Rome, Città Nuova, 1990-2014. Chúng tôi rút ra các bản dịch từ đó, nhưng với những điều chỉnh khác nhau.
[3] Thuật ngữ “linh hồn” từ lâu đã bị loại bỏ khỏi ngôn ngữ giáo hội; chúng ta không còn nói đến việc “chăm sóc các linh hồn”, đến “sự cứu rỗi các linh hồn”, mặc dù Bộ Giáo luật kết thúc bằng câu nói: Salus animarum, suprema lex. Thuật ngữ này nên được phục hồi, miễn là nó được hiểu là ám chỉ con người toàn diện, trong sự cởi mở của con người đối với cái siêu việt. Thực ra, Giáo hội không chỉ quan tâm đến “con người”, mà còn quan tâm đến con người trong số phận vĩnh cửu của họ, nơi đích đến của họ với Thiên Chúa, và điều này được nhấn mạnh chính xác bằng thuật ngữ “linh hồn”.
[4] Vào thời Thánh Grêgôriô, việc chuẩn bị cho sứ vụ linh mục được giao cho cá nhân hoặc các trung tâm đan viện tự quyết định. Chỉ đến Công đồng Trentô (1545-63) các chủng viện và khoa thần học mới được thành lập.
[5] Xem Đức Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium, về việc loan báo Tin Mừng trong thế giới ngày nay (24 tháng 11 năm 2013), nn. 135-175.

