LƯỢC SỬ GIÁO XỨ KẺ SẶT
Giáo phận Hải Phòng


- Thành lập: Năm 1630
- Nhân danh: 4.140 nhân danh (khu Thượng: 1.870 nhân danh; khu Trung: 1.206 nhân danh; khu Hạ: 1.064 nhân danh)
- Quan thầy: Đức Mẹ Mân Côi (7/10)
- Linh mục Chính xứ: Cha Gioan Baotixita Nguyễn Quang Sách
- Địa chỉ: Đường Vạn Xuân, xã Kẻ Sặt, Tp. Hải Phòng


I. VỊ TRÍ VÀ TÊN GỌI
Kẻ Sặt là vùng đất nằm cạnh dòng Nghĩa Giang (sông Sặt), sát đường Quốc lộ 5, kéo dài từ Khu Thượng đến cầu Sặt, ra tới Cầu Sộp. Phía Đông tiếp giáp với làng Me Khê, Me Thữ (Vĩnh Hồng), phía Tây tiếp giáp làng Phúc Bố (Mỹ Hào - Hưng Yên) và Đồng Xá (nay thuộc Kẻ Sặt). Phía Nam giáp làng Thị Tranh (Thúc Kháng), phía Bắc tiếp giáp làng Thị Vạn và Thịnh Lại, cách Tòa Giám mục Hải Phòng khoảng 70 km.


Tên gọi Kẻ Sặt có nguồn gốc từ năm 1884, khi các thừa sai Tây Ban Nha trở lại để tái thiết giáo xứ. Ngắm địa thế làng “Phân Sáp” (tên thường gọi của làng sau chỉ dụ cấm đạo và phân sáp thời vua Tự Đức năm 1861, trước đó làng có tên Tráng Liệt Bình) sầm uất như Kẻ Chợ (Kẻ chợ theo nghĩa cổ chỉ kinh đô) các Ngài đã muốn đặt tên cho là “Kẻ Sáp”. Nhưng do các Ngài phát âm lệch vần “Sáp” thành “Sặt”, từ đó, làng Tráng Liệt Bình có tên là làng Kẻ Sặt cho đến ngày nay.


Với diện tích sau khi sát nhập ngày 01-12-2019 là 2,95 km2 cùng dân số khoảng 12.725 người, Kẻ Sặt là trung tâm chính trị, văn hóa, kinh tế và tôn giáo của cả vùng. Với Giáo phận Hải Phòng, Kẻ Sặt là một xứ đạo lớn, có bề dày lịch sử và truyền thống lâu đời.

II. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
1. Hình thành cộng đoàn đức tin

Theo các trang sử truyền giáo vào Đông Đàng Ngoài (miền Bắc Việt Nam), làng Kẻ Sặt được đón nhận đức tin từ Phố Hiến - Hưng Yên, qua các Cha Dòng Tên vào khoảng năm 1580 – 1590. Năm 1630, nhờ có vị trí thuận tiện, làng Tráng Liệt Bình được chọn làm trụ sở truyền bá Phúc Âm cho toàn xứ Đông, được đặt thành giáo xứ và nhận Đức Mẹ Mân Côi làm Quan thầy. Ngôi nhà thờ đầu tiên của làng Sặt được làm bằng gỗ, đặt tại khu Thượng (vị trí hiện nay là tu viện trung ương Hiệp hội Đaminh Mẫu Tâm Hải Phòng) do Cha thừa sai Đaminh Sat Cruz khởi xướng năm 1706.


Giáo xứ Kẻ Sặt đang đà phá triển rực rỡ thì gặp phải muôn vàn thử thách cam go. Năm 1712, Trịnh Cương cấm đạo lần thứ nhất, Làng Tráng Liệt bị đốt ra tro, chỉ có ngôi thánh đường vừa tu sửa may mắn thoát nạn. Đến năm 1721, Trịnh Cương cấm đạo lần nữa, 150 giáo dân bị phát lưu thảo tượng và tử đạo (x. 26 anh hùng tử đạo, Lm. Bùi Đức Sinh, tr. 17-18). Ngày 08-6-1838: Dưới triều vua Minh Mạng, cha Vinh Sơn Đỗ Yến (quê Trà Lũ, Nam Định) là cha chính xứ Kẻ Sặt, đã bị bắt và chịu phúc tử đạo ngày 30-6-1838. Ngài được phong chân phước năm 1900, và được tuyên phong hiển thánh ngày 19-6-1988. Cha thánh Vinh Sơn Đỗ Yến được dân làng Kẻ Sặt ví như một vị Thành Hoàng, vì Ngài có công lớn gìn giữ bảo vệ dân làng trong hoàn cảnh khó khăn nhất của thời cuộc. Năm 1858 – 1862: Thời vua Tự Đức, có nhiều Đầu mục, Thứ mục, Binh lính (ông Vệ) và giáo dân có đạo bị bắt, bị xử trảm quyết. Trong đó phải kể đến 26 Anh Hùng Tử Đạo làng Kẻ Sặt – Tráng Liệt Bình. Đến thời cha Phêrô Quang coi xứ Kẻ Sặt, sau đổi về Nghĩa Vụ, Bắc Ninh. Cha bị bắt cùng với 7 người nhà Đức Chúa Trời, 1 giáo dân, 1 dì phước. Tất cả bị điệu lên Bắc Ninh. Ngày 8-12-1861 cha Quang và 2 Thầy giảng Định và Minh bị trảm quyết.


Giữa các cơn bách hại đạo trăm bề hiểm nguy, giáo xứ Kẻ Sặt vẫn trung kiên, giữ vững đức tin và là nơi lưu trú, hoạt động của các linh mục, tu sĩ. Năm 1883, cha Garcia Liêm xây nhà thờ Kẻ Sặt, trường Thần học và bệnh viện. Công Đồng Bắc Kỳ lần thứ nhất khai mạc ngày 11-2-1900 tại Kẻ Sặt do Đức Cha Giuse Terrés Hiến chủ toạ cùng sự hiện diện của các Giám mục đại diện Tông Toà. Công Đồng đã đưa ra nhiều quyết sách quan trọng cho Giáo hội địa phương.


Ngày 23-4-1906, Đức Cha Giuse Hiến qua đời tại Hải Phòng, được an táng tại nhà thờ Kẻ Sặt. Cha chính Arellano Huy lên kế vị. Lễ tấn phong được tổ chức ngày 14-10-1906 tại Kẻ Sặt. Từ năm 1945 tình hình chính trị phức tạp, Đức Cha Gomez Lễ đặt cha Giuse Đỗ Minh Chất ở Kẻ Sặt làm cha chính. Cha Chất (quê ở Liêm Khê, Vĩnh Bảo, Hải Phòng) là người Việt Nam đầu tiên trong chức vụ cha chính (các vị trước đó đều là người ngoại quốc). Ngài qua đời ngày 09-9-1952 tại Kẻ Sặt, an táng tại vườn thánh giáo xứ Kẻ Sặt.

2. Cuộc di cư vào Nam năm 1954
Trước năm 1954, Kẻ Sặt là xứ đạo toàn tòng với khoảng 11.000 nhân danh. Sau khi ký hiệp định đình chiến 20-7-1954, tình hình xã hội đầy biến động và ly tán. Làng Sặt một thời tan hoang, vườn không nhà trống. Ước tính có khoảng 80% người dân làng Sặt di cư vào Nam và thành lập làng Kẻ Sặt tại Hố Nai, Biên Hòa. Từ đó, làng Sặt “chia đôi” thành Kẻ Sặt Bắc và Kẻ Sặt Nam.


Khi di cư, các cụ đã mang theo 2 quả chuông nhỏ, bộ máy đồng hồ trên tháp giữa đi theo. Làng Sặt Bắc còn lại thưa thớt một số gia đình, ước chừng còn độ 2.000 nhân danh. Nhà cửa tiêu điều, không còn bóng người.


Người làng Sặt di cư vào Nam ước chừng 7.000 người. Khi đến Sài Gòn, một số gia đình định cư tại Bình An, số lớn còn lại được chuyển về Hố Nai (Biên Hoà). Người làng Sặt vốn tài năng, khéo léo, cần cù nên cộng đoàn Kẻ Sặt Nam nhanh chóng ổn định và phát triển kinh tế. Với đức tin mạnh mẽ và bám rễ sâu vào tâm khảm, người Kẻ Sặt dù di cư, vẫn giữ lòng yêu mến Chúa và sống đạo cách trọn. Cho đến nay, giáo xứ Kẻ Sặt Xuân Lộc vẫn là một cộng đoàn đức tin lớn mạnh, giữ được bản sắc truyền thống của Kẻ Sặt Hải Phòng trong các dịp lễ hàng năm, nhất là Tuần Thánh.


Biến cố thời cuộc khiến Kẻ Sặt chia đôi, nhưng dân làng Sặt hai miền Nam – Bắc vẫn giữ mối dây khăng khít bền vững. Cả hai không chỉ cùng chung một quê hương Tráng Liệt Bình như cùng chung một đức tin duy nhất được chăm bẵm, ươm trồng bởi các anh hùng tử đạo, các thế hệ tiền nhân là con dân làng Sặt.

3. Lịch sử ngôi thánh đường
Ngay từ những ngày đầu thành lập giáo xứ, cộng đoàn đã ước ao và dự liệu để có một ngôi nhà thờ để phụng sự Chúa. Nhà thờ Kẻ Sặt đầu tiên được xây dựng bằng gỗ, đặt tại Khu Thượng – Kẻ Sặt (vị trí hiện nay là trung ương Hiệp Hội Đaminh Mẫu Tâm Hải Phòng). Đến năm 1872, Cha chính Bắc (Père Batholomeo) quyết định chuyển nhà thờ về trung tâm làng (vị trí hiện nay). Năm 1889, Cha Tổng đại diện Garcia Liêm O.P khởi công xây dựng nhà thờ lớn hiện nay với phong cách Gothic với nguyên vật liệu được nhập từ Pháp quốc. Công trình kéo dài đến năm 1922, thời Cha Antôn Ubach (Bình) thì hoàn tất và tổ chức lễ khánh thành. Năm 1952, Cha Đaminh Lê Duy Thức cùng Cha phó Giuse Nguyễn Hữu Lộc cho trùng tu tháp giữa và mặt tiền nhà thờ, đặt tượng Chúa Kitô Vua.


Sau các đợt tu sửa thời các Cha Gioan Baotixita Bùi Văn Nhượng, Cha Phêrô Nguyễn Văn Nguyên và hiện tại là Cha Gioan Baotixita Nguyễn Quang Sách, nhà thờ giáo xứ Kẻ Sặt cùng khuôn viên thánh đường đang dần được hoàn thiện, khang trang và sạch đẹp hơn. Năm 2022, giáo xứ đã long trọng kỉ niệm đại lễ kỉ niệm 100 năm hoàn thành ngôi thánh đường (1922- 2022).


4. Các cha xứ qua từng thời kỳ (từ 1954 đến nay)
Trong lịch sử hình thành và phát triển cộng đoàn đức tin, giáo xứ Kẻ Sặt đã có rất nhiều linh mục được bề trên sai đến coi sóc giáo xứ, tính riêng từ năm 1954 cho đến nay có các cha: cha Gioakim Nguyễn Quang Mỹ (1954 – 1975), cha Phêrô Đoàn Văn Kiểm (1979 -1987), cha Đaminh Nguyễn Chấn Hưng (1989 – 2007), cha Gioan Baotixita Bùi Văn Nhượng (2007 – 2017), cha Phêrô Nguyễn Văn Nguyên (2017 – 2021); và Cha Gioan Baotixita Nguyễn Quang Sách được bổ nhiệm làm chính xứ Kẻ Sặt, từ ngày 09 tháng 11 năm 2021 đến nay.

III. KẺ SẶT NGÀY NAY
Như đã nói ở trên, Kẻ Sặt là một xứ đạo có bề dày lịch sử và truyền thống bậc nhất giáo phận. Từ xứ mẹ Kẻ Sặt, có ba giáo xứ đã được phân tách gồm: Giáo xứ thánh Antôn, Giáo xứ thánh Phêrô và Giáo xứ Thánh Mátthêu. Dù đã bị chia tách nhưng hiện nay, Kẻ Sặt vẫn là một giáo xứ lớn có đời sống đức tin vững mạnh và nhiều sinh hoạt mục vụ phong phú. Giáo xứ có khoảng 30 hội đoàn đạo đức như Hội Legiô Mariae, Huynh đoàn giáo dân Đaminh, Hội Lòng Thương Xót… đang hoạt động rất tích cực. Ngoài ra, các hội tràng hạt và các nhóm đọc kinh liên gia đang góp phần củng cố và lan toả các giá trị Tin mừng giữa lòng cộng đoàn.


Từ mảnh đất màu mỡ Tráng Liệt, rất nhiều người con nơi đây đã dâng mình tận hiến cho Thiên Chúa và Giáo Hội như những hoa trái của đời sống đức tin xứ đạo Kẻ Sặt. Đặc biệt, có những người con ưu tú của giáo xứ đã được tuyển chọn cho những sứ vụ rất quan trọng trong Giáo hội như: Đức Đan viện phụ Giuse Chu Công (1917-2004) và Đức Tổng giám mục Giuse Vũ Văn Thiên – Tổng giám mục Hà Nội. Cha cố Giuse Phạm Văn Dương (1943-2001) được an táng tại khuôn viên nhà thờ Xâm Bồ. Cha giáo Giuse Dương Hữu Tình – Quản hạt Hòn Gai và Cha giáo Giuse Nguyễn Đình Dương hiện đang tham gia công tác giảng dạy tại nhiều Đại chủng viện. Ngoài ra, giáo xứ còn có các linh mục quê hương đang phục vụ tại các giáo xứ trong giáo phận như: Cha Giuse Quách Trung Hiếu – Chính xứ Sông Khoai và Cha Giuse Vũ Văn Công – Chính xứ Đồng Bình; cùng nhiều nam nữ tu sĩ đang phục vụ khắp nơi trên cánh đồng truyền giáo.


Về khía cạnh mục vụ, tiếp nối truyền thống của quý cha tiền nhiệm, cha xứ Gioan Baotixita và Ban hành giáo giáo xứ hết sức quan tâm đến việc đào tạo thế hệ tương lai của giáo xứ qua phong trào Thiếu Nhi Thánh Thể. Các em được học giáo lý hàng tuần, có các Thánh lễ dành riêng và nhiều hoạt động vui chơi, trải nghiệm cho các em vào các dịp nghỉ hè hoặc Lễ, Tết.


Ngoài việc đồng hành, chăm lo cho các hội đoàn đạo đức lâu đời trong giáo xứ, Cha xứ và Ban hành giáo cũng dành thời gian thăm hỏi, động viên các gia đình, các cụ cao niên, những người khô khan nguội lạnh, các gia đình trẻ và những người lương dân. Bên cạnh đó, Cha xứ Gioan Baotixita đang dần khơi lên các hạt giống ơn gọi mới trong giáo xứ, tiếp nối truyền thống tốt đẹp của quê hương Kẻ Sặt.


Trước những biến chuyển và thách thức mới của thời cuộc, giáo xứ Kẻ Sặt vẫn đã và đang là một cộng đoàn đức tin vững mạnh, hiệp nhất với những giá trị tốt đẹp của Tin mừng và truyền thống thắm đượm. Dẫu biết đời sống công nghiệp hoá, kinh tế - thị trường đang gây những khó khăn và bất cập nhất định, ảnh hưởng đến đời sống đức tin của cộng đoàn. Song với bề dày đức tin đã được hun đúc từ máu các chứng nhân tử đạo cùng lòng yêu mến, sắt son, Giáo xứ Kẻ Sặt sẽ luôn là cộng đoàn đức tin sống động, phong phú và là chứng nhân Tin mừng cho những người xung quanh.
  

PHỤ LỤC I
THÁNH VINH SƠN ĐỖ YẾN
(1764 – 30/6/1838)
Cha Xứ Giáo Xứ Kẻ Sặt
Thành Hoàng Làng Kẻ Sặt, Bình Giang, Hải Dương
Bổn mạng Linh mục Giáo Phận Hải Phòng
“Tôi sẵn lòng chịu chết, chứ không nói dối để được sống”.


Thánh Vinhsơn Đỗ Yến sinh năm 1764 tại Trà Lũ, xứ Phú Nhai, tỉnh Nam Định (nay thuộc giáo xứ Phú Nhai, Giáo phận Bùi Chu). Năm 1798, cha được Đức cha Delgado - Y phong chức linh mục. Sau đó cha từng bị bắt nhưng được tín hữu dùng tiền chuộc về.

Ngày 22-07-1807, cha Vinhsơn Đỗ Yến lãnh áo dòng Đa Minh. Nhiệt tâm với sứ vụ, cha Vinhsơn không nề quản mệt nhọc hiểm nguy, luôn vui tươi, khôn ngoan, bình tĩnh và dịu hiền. Cha từng đảm trách xứ Kẻ Mốt trước khi về Kẻ Sặt, Hải Dương.

Năm 1838, chiếu chỉ cấm đạo của vua Minh Mạng được thi hành triệt để. Cha xứ Kẻ Sặt Vinhsơn Đỗ Yến đau lòng chứng kiến cảnh giáo dân bị cưỡng ép hạ ngôi thánh đường do bao công sức vất vả xây dựng nên. Vì thương đoàn chiên, ngài ở lại giữa họ, nay nhà này mai nhà khác, ban đêm lo cử hành phụng vụ, ban ngày đi thăm giáo dân.

Khi hay tin cha Đỗ Yến vẫn ở Kẻ Sặt, quan quân liền tăng cường việc lùng bắt và đe dọa tàn phá bình địa làng Sặt. Để đoàn chiên được yên ổn, vị chủ chăn âm thầm ra đi, hoàn toàn tín thác vào bàn tay Chúa quan phòng. Tại họ Lực Điền, Hưng Yên, cha Yến bị ông cai Phan cho người bắt và giải về Hải Dương.

Tuần phủ Hải Dương vốn có lòng nhân hậu, đề nghị cha khai mình là lang y để có thể tha. Nhưng cha trả lời: “Không, tôi không phải là thầy lang. Tôi là thầy cả chuyên giảng đạo và tế lễ Thiên Chúa. Tôi sẵn lòng chịu chết vì lẽ đó, chứ không nói dối để được sống”.

Quan tìm cách khác để cứu cha. Ông cho vẽ vòng tròn chỗ cha đứng, bảo ngài bước qua đó như bước qua Thánh Giá vậy. Một lần nữa cha lại cương quyết từ chối: “Làm như thế không khác nào tôi chối đạo”. Quan tuần phủ thấy không thể làm lay chuyển đức tin vị linh mục lão thành, liền làm sớ gửi về kinh. Để khỏi phải đích thân xử án người vô tội, quan xin triều đình cho giải cha về nguyên quán là tỉnh Nam Định, nhưng vua Minh Mạng không chấp thuận và kết án tử hình tại chỗ.

Bản án ký ngày 20-6-1838. Trong ba tuần lễ bị giam, nhờ sự can thiệp của ông lang Hàn, cha Đỗ Yến không phải mang gông xiềng và được giáo hữu đến thăm.

Ngày 30-6-1838, quan tuần phủ thi hành bản án. Cha Vinhsơn hiên ngang tiến ra pháp trường ở gần họ Bình Lao, cách thành Hải Dương một cây số về phía Tây. Gương mặt hiền từ của vị linh mục lão thành đáng kính với dáng điệu thanh cao khiến nhiều người xúc động.

Tới nơi ngài quỳ gối cầu nguyện thật sốt sắng, rồi lý hình thi hành phận sự. Quan tặng một tấm vải để tẩm liệm, truyền khâu đầu vị tử đạo vào cổ, và cho phép tín hữu họ Bình Lao đưa về an táng. Tám tháng sau, tín hữu cải táng thi hài vào nhà thờ Thọ Ninh.

Linh mục Vinhsơn Ðỗ Yến được suy tôn chân phước ngày 27-5-1900 và được tôn phong hiển thánh ngày 19-6-1988.

Nguồn: hdgmvietnam.com


PHỤ LỤC II
CÔNG ĐỒNG MIỀN BẮC KỲ TẠI KẺ SẶT


I. Lý do Công Đồng miền Bắc lần thứ I năm 1900 được tổ chức
Theo chỉ thị của Tòa Áp việc Giảng đạo, Tòa Thánh yêu cầu Đức Cha niên trưởng trong các Địa phận Miền Bắc lúc đó là Đức Thầy Antong Colomer Lễ - vít-vồ Themiscerenso, vicario apostolico Địa Phận Bắc Đàng Ngoài (Bắc Ninh) - đứng ra triệu tập và chủ tọa Công Đồng. Nhưng vì ngài tuổi cao sức yếu, không cáng đáng nổi công việc, nên đã xin Tòa Thánh cử Đức Thầy Giuse Terres Hiến - vít-vồ Cydissence, vicario apostolica Địa Phận Đông Đàng Ngoài - đứng tổ chức thay.


Được sự chấp thuận của các Đức Thầy trong miền, Đức Thầy Hiến đã sẵn sàng đứng triệu tập và “Khai mạc Công Đồng thứ nhất của miền Bắc Kỳ, ngày 11-2-1900, cũng là ngày lễ cả Bảy mươi tại Nhà thờ Đức Bà, hiệu là Nữ Vương Truyền Rất Thánh Rosario, ở làng Kẻ Sặt, tỉnh Hải Dương và do chính Đức Thầy Hiến thay mặt Bộ Áp việc Giảng đạo đứng đầu (x.Thư của Đức Thầy Juse Terres Hiến gởi cho các Đức Thầy trong Miền, ngày 16 tháng Junio năm 1899).

II. Lý do chọn Kẻ Sặt là nơi họp Công Đồng
Lẽ ra Công Đồng phải họp tại Hải Phòng, vì Hải Phòng lúc đó đang là Tòa Giám Mục Địa phận Đông Đàng Ngoài. Tuy nhiên, các Đức Thầy lại chọn xứ Kẻ Sặt, lý do là vì Kẻ Sặt là một giáo xứ lớn nhất trong Địa Phận Đông Đàng Ngoài, dân số lại đông và toàn tòng Công Giáo, xưa kia cũng là Tòa Giám Mục lâu đời, và nay lại đang là trụ sở của Cha Chính (Cố Chính bề trên địa phận sau Đức Thầy), lại có Trường Lý Đoán đang học tại đây, nên là một nơi thuận tiện cả về phương diện nhân sự và đủ phương tiện vật chất và tinh thần. Vì thế, Công Đồng đã quyết định họp tại Kẻ Sặt.

III. Thành phần các Giám mục đại diện Tông Tòa đàng ngoài tham dự Công Đồng
- Đức Thầy Giuse Terrés Hiến, vít-vồ Cydissense, vicario apostolico Địa phận Đông.
- Đức Thầy Lui Pineau Trị, vít-vồ Calam, vicario apostolico Địa phận Nam.
- Đức Thầy Phê-rô Maria Gendreau Đông, vít-vồ Chrysopoli, vicario apostolico Địa phận Tây.
- Đức Thầy Bảo Lộc Maria Raymond Lộc, vít-vồ Linoe, vicario apostolico Địa phận Đoài.
- Đức Thầy Maximo Fernandez Định, vít-vồ Adtudense, vicario apostolico Địa phận Trung.
- Đức Thầy Maximino Velasco Khâm, vít-vồ Amoria, làm Coadjutor thay mặt Đức thầy Địa phận Bắc.
Ngoài ra còn có 5 vị Cố chính địa phận, và 3 Cha chính dòng thánh Duminhgô (Đa-minh) được mời tham dự nhưng không được bỏ thẻ.

IV. Tóm lược các nghị quyết của Công Đồng
Đây là lần đầu tiên từ sau khi Giáo hội Việt Nam được bằng yên, các Đức Giám Mục Miền Bắc đã hội chung và bàn định các vấn đề sinh hoạt và tổ chức chung của các Địa Phận Miền Bắc. Những quyết định của Công Đồng Kẻ Sặt đã hướng dẫn cho các Đấng bậc trong Giáo Hội về các công việc phải thi hành cho sáng danh Chúa và tấn ích cho các linh hồn. Các nghị quyết này ghi lại thành một bản sắc lệnh và đa số các điều khoản còn giá trị cho đến ngày nay.

1. Các quyết định về bổn phận các Đấng Đại Diện Tông tòa, về các Thừa sai ngoại quốc đang hoạt động tại Việt Nam, về các Linh mục bản quốc, các Thầy giảng, các người nhà Đức Chúa Trời, các Tu sĩ nam nữ và toàn thể giáo dân.
2. Các quyết định về Trường Kẻ thử, La-tinh và Lý đoán.
3. Các quyết định về việc quản trị và sử dụng các tài sản của Thánh Yghêrêgia, của các Địa phận, của nhà chung và của các nhà thờ họ đạo, cũng như các tài sản của các nhà mụ và các của được công đức.
4. Các quyết định về việc cử hành các phép Sacramentô.
5. Sau cùng, các quyết định về việc coi sóc các con chiên, như việc giữ ngày Chúa Nhật, xưng tội, rước lễ mùa Phục sinh, ăn chay kiêng thịt, về tổ chức ban Trùm trưởng, về các Tràng dạy Giáo lý và các Tràng khác với vấn đề giáo viên và sách giáo khoa, về mê tín dị đoan, đám ma, về các họ lẻ và người tân tòng và sau cùng, về các tiểu nhi và các bệnh viện.
Rất nhiều quyết định của Công Đồng Kẻ Sặt năm 1900, đã đưa ra rất khôn ngoan và bổ ích như tổ chức nhà Đức Chúa Trời và các Thầy Giảng.
Tuy Công Đồng lúc đó có ra nhiều điều luật khắt khe, nhưng nhờ đó mà củng cố được Giáo Hội rất vững chắc và thánh thiện, và hoa trái của Công Đồng vẫn còn lưu giữ cho tới ngày nay.

Ban Truyền Thông Giáo Phận biên tập


Nguồn tài liệu:
- Kỷ yếu Giáo xứ Kẻ Sặt – 100 năm hoàn thành ngôi Thánh Đường Giáo xứ Kẻ Sặt.
- Lịch sử địa phận Đông Đàng Ngoài.
- Các nhân chứng người cao niên làng Sặt.
- 376 tuổi Đức Tin (1627-2003) của Tòa giám Mục Hải Phòng.
- Tài liệu làng xã Việt Nam (UBND Thị Trấn Kẻ Sặt).
- Tài liệu từ các nguồn trên internet


Ghi chú: Tài liệu lược sử Giáo xứ Kẻ Sặt đang được sưu tầm và hoàn thiện. Ban biên tập mong nhận được sự quan tâm và những góp ý quý báu của Quý Độc giả, để Lược sử Giáo xứ này được hoàn tất. Email liên hệ: [email protected].

Xin trân trọng cám ơn!