GIÁO LÝ CHO BÀI GIẢNG LỄ ĐỨC MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI (15/8)


- Số 411, 966-971, 974-975, 2853: Đức Maria, Eva Mới, được lên trời

- Số 773, 829, 967, 972: Đức Maria, biểu tượng cánh chung của Hội Thánh

- Số 2673-2679: Cầu nguyện với Đức Maria

 

Số 411, 966-971, 974-975, 2853: Đức Maria, Eva Mới, được lên trời

411. Truyền thống Kitô giáo nhận ra trong đoạn này lời tiên báo một vị “Ađam mới”[1], Đấng đã lấy sự “vâng lời cho đến chết… trên thập giá” (Pl 2,8) của mình, mà sửa lại một cách đầy tràn chan chứa tội bất tuân của ông Ađam[2]. Đàng khác, nơi Người Nữ được tiên báo trong Tiền Tin Mừng, nhiều Giáo phụ và tiến sĩ Hội Thánh nhận ra Đức Maria, Mẹ Đức Kitô, như là một bà “Evà mới”. Đức Maria là người đầu tiên và theo một cách thế độc nhất vô nhị, được thừa hưởng chiến thắng của Đức Kitô trên tội lỗi: Bà được gìn giữ khỏi mọi vết nhơ của tội tổ tông[3] và trong suốt cuộc đời trần thế của mình, nhờ ân sủng đặc biệt của Thiên Chúa, Bà đã không hề phạm một tội nào[4].

966. “Sau cùng, Đức Trinh Nữ Vô nhiễm, được gìn giữ tinh tuyền khỏi mọi tì vết nguyên tội, sau khi hoàn tất cuộc đời trần thế, đã được đưa lên hưởng vinh quang thiên quốc cả xác cả hồn, và được Chúa tôn vinh làm Nữ Vương vũ trụ, để Mẹ được đồng hình đồng dạng cách sung mãn hơn với Con mình, là Chúa các chúa và là Đấng đã chiến thắng tội lỗi và sự chết”[5]. Cuộc Lên trời của Đức Trinh Nữ rất thánh là sự tham dự độc nhất vô nhị vào sự Phục sinh của Con mình và là việc thể hiện trước sự phục sinh của các Kitô hữu khác:

“Lạy Mẹ Thiên Chúa, khi sinh con, Mẹ vẫn khiết trinh; khi yên nghỉ, Mẹ vẫn không lìa bỏ trần gian: Mẹ đã đến với Đấng là nguồn mạch sự sống, chính Mẹ, người đã cưu mang Thiên Chúa hằng sống và chính Mẹ, bằng lời khẩn cầu của Mẹ, sẽ cứu linh hồn chúng con khỏi chết”[6].

… chính Mẹ là Mẹ chúng ta trong lãnh vực ân sủng

967. Vì sự hoàn toàn gắn bó của Mẹ với thánh ý Chúa Cha, với công trình cứu chuộc của Con mình, và với mọi tác động của Chúa Thánh Thần, Đức Trinh Nữ Maria là gương mẫu về đức tin và đức mến cho Hội Thánh. Vì vậy, chính Me là “thành phần ưu việt và tuyệt đối độc nhất vô nhị của Hội Thánh”[7], và Mẹ cũng là “sự thực hiện mẫu mực”, là “điển hình” của Hội Thánh[8].

968. Nhưng nhiệm vụ của Mẹ đối với Hội Thánh và toàn thể nhân loại còn được mở rộng hơn nữa. Chính Mẹ “đã cộng tác một cách tuyệt đối độc nhất vô nhị vào công trình của Đấng Cứu Độ, bằng sự vâng phục, bằng đức tin, đức cậy và đức mến nồng nhiệt, để phục hồi sự sống siêu nhiên cho các linh hồn. Vì lý do đó, Mẹ là Mẹ của chúng ta trong lãnh vực ân sủng”[9].

969. “Tình mẫu tử này của Đức Maria trong Nhiệm cục ân sủng kéo dài không ngừng, khởi từ sự ưng thuận Mẹ đã trung tín bày tỏ trong cuộc Truyền tin, và chịu đựng cách không do dự dưới chân thập giá, cho tới sự hoàn tất vĩnh viễn của mọi người được tuyển chọn. Thật vậy, sau khi Mẹ được lên trời, nhiệm vụ cứu độ của Mẹ không chấm dứt, nhưng qua việc liên lỉ chuyển cầu của mình, Mẹ tiếp tục đem lại cho chúng ta những hồng ân của ơn cứu độ vĩnh cửu…. Vì vậy, trong Hội Thánh, Đức Trinh Nữ diễm phúc được kêu cầu bằng các tước hiệu là Trạng Sư, Đấng Cứu Giúp, Đấng Phù Hộ, Đấng Trung Gian”[10].

970. “Nhiệm vụ làm mẹ của Đức Maria đối với loài người … không hề làm lu mờ hay suy giảm sự trung gian duy nhất của Đức Kitô, nhưng tỏ cho thấy uy lực của sự trung gian ấy. Thật vậy, mọi dòng chảy mang ơn cứu độ của Đức Trinh Nữ … đều bắt nguồn từ công nghiệp đầy tràn chan chứa của Đức Kitô, dựa trên sự trung gian của Người, hoàn toàn lệ thuộc vào sự trung gian đó, và múc lấy mọi sức mạnh từ đó”[11]. “Quả vậy, không bao giờ một thụ tạo nào có thể được liệt kê cùng với Ngôi Lời nhập thể và là Đấng Cứu Chuộc; nhưng cũng như chức tư tế của Đức Kitô được tham dự bằng nhiều cách khác nhau hoặc bởi các thừa tác viên hoặc bởi giáo dân, và cũng như sự tốt lành duy nhất của Thiên Chúa thật sự được tuôn đổ bằng nhiều cách khác nhau cho các thu tạo, thì cũng vậy, sự trung gian duy nhất của Đấng Cứu Chuộc không loại bỏ nhưng khơi dậy sự cộng tác khác nhau nơi các thụ tạo, nhờ được tham dự vào một nguồn mạch duy nhất”[12].

971.Hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc” (Lc 1,48): “Lòng sùng kính của Hội Thánh đối với Đức Trinh Nữ Maria diễm phúc thuộc về chính bản chất của phụng tự Kitô giáo”[13]. Đức Trinh Nữ diễm phúc “đáng được Hội Thánh tôn vinh bằng một phụng tự đặc biệt. Thật vậy, từ những thời rất xa xưa, Đức Trinh Nữ diễm phúc đã được tôn kính dưới tước hiệu “Mẹ Thiên Chúa”, và các tín hữu đã khẩn cầu cùng ẩn náu dưới sự che chở của Mẹ trong mọi cơn gian nan khốn khó…. Phụng tự đó, tuy là độc nhất vô nhị, nhưng tự bản chất vẫn khác biệt với phụng tự tôn thờ được dâng lên Ngôi Lời nhập thể, cũng như dâng lên Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, và phụng tự tôn kính Đức Maria chủ yếu là cổ võ phụng tự tôn thờ Chúa Ba Ngôi”[14]; sự tôn kính đó được diễn tả trong các lễ phụng vụ dành cho Mẹ Thiên Chúa[15] và trong các kinh nguyện kính Đức Maria, như kinh Mân Côi, “bản tóm lược toàn bộ Tin Mừng”[16].

974. Đức Trinh Nữ Maria rất thánh, sau khi hoàn tất cuộc đời trần thế của mình, được đưa cả xác cả hồn lên hưởng vinh quang thiên quốc, nơi Mẹ tham dự vào vinh quang của cuộc Phục Sinh của Con mình, thể hiện trước sự phục sinh của tất cả các chi thể của Thân Thể Người.

975. “Chúng tôi tin Mẹ rất thánh của Thiên Chúa, bà Evà mới, Mẹ Hội Thánh, giờ đây ở trên trời, vẫn tiếp tục nhiệm vụ làm mẹ đối với các chi thể của Đức Kitô”[17].

2853. Cuộc chiến thắng trên “thủ lãnh thế gian này”[18] đã hoàn tất, một lần cho mãi mãi, vào Giờ Chúa Giêsu tự nguyện nộp mình chịu chết để ban cho chúng ta sự sống của Người. Đó là lúc phán xét thế gian này và thủ lãnh thế gian này “bị tống ra ngoài”[19]. Hắn “đuổi bắt người Phụ Nữ” (Kh 12,13)[20], nhưng không bắt được Bà; Bà là Evà mới, “đầy ân sủng” của Chúa Thánh Thần, được gìn giữ khỏi tội lỗi và sự hư nát của cái chết (Sự Vô nhiễm nguyên tội và Lên trời của Mẹ rất thánh của Thiên Chúa, Đức Maria trọn đời đồng trinh). “Con Mãng Xà nổi giận với người Phụ Nữ và đi giao chiến với những người còn lại trong dòng dõi bà” (Kh 12,17). Vì thế, Thần Khí và Hội Thánh cầu nguyện: “Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến” (Kh 22,17.20), bởi vì khi Người ngự đến, Người sẽ giải thoát chúng ta khỏi Ác thần.

 

Số 773, 829, 967, 972: Đức Maria, biểu tượng cánh chung của Hội Thánh

773. Trong Hội Thánh, sự hiệp thông này giữa người ta với Thiên Chúa nhờ đức mến “không bao giờ mất được” (1 Cr l3,8) là mục đích chi phối tất cả những gì là phương tiện bí tích gắn liền với thế giới đang qua đi này[21]. “Toàn bộ cơ cấu của Hội Thánh đều hướng về sự thánh thiện của các chi thể của Đức Kitô. Sự thánh thiện ấy lại được xác định theo ‘mầu nhiệm cao cả’, là mầu nhiệm Hiền Thê dùng tặng phẩm tình yêu của riêng mình đáp trả lại tang phẩm của Đấng Phu Quân”[22]. Đức Maria trổi vượt tất cả chúng ta về sự thánh thiện, vốn là mầu nhiệm của Hội Thánh, như một Hiền Thê không tỳ ố, không vết nhăn[23]. Vì vậy, “chiều kích Maria của Hội Thánh trổi vượt trên chiều kích Phêrô”[24].

829. “Trong khi Hội Thánh đã đạt tới sự trọn hảo không tì ố, không vết nhăn, nơi Đức Trinh Nữ diễm phúc, thì các Kitô hữu vẫn còn phải cố gắng, để chiến thắng tội lỗi mà tiến tới trong sự thánh thiện; vì vậy họ ngước mắt nhìn lên Đức Maria”[25]: nơi Đức Mẹ, Hội Thánh đã hoàn toàn thánh thiện.

967. Vì sự hoàn toàn gắn bó của Mẹ với thánh ý Chúa Cha, với công trình cứu chuộc của Con mình, và với mọi tác động của Chúa Thánh Thần, Đức Trinh Nữ Maria là gương mẫu về đức tin và đức mến cho Hội Thánh. Vì vậy, chính Me là “thành phần ưu việt và tuyệt đối độc nhất vô nhị của Hội Thánh”[26], và Mẹ cũng là “sự thực hiện mẫu mực”, là “điển hình” của Hội Thánh[27].

972. Sau khi đã trình bày về Hội Thánh, về nguồn gốc, sứ vụ và đích điểm của Hội Thánh, chúng ta không thể kết luận bằng cách nào tốt hơn là hướng nhìn về Đức Maria, để nơi Mẹ, chúng ta chiêm ngắm Hội Thánh là gì trong mầu nhiệm của mình, trong “cuộc lữ hành đức tin” của mình, và Hội Thánh sẽ là gì trong quê hương tương lai, khi kết thúc cuộc hành trình của mình, ở đó, “để làm vinh danh Chúa Ba Ngôi Chí Thánh và không thể phân chia”, “trong sự hiệp thông của tất cả các Thánh”[28], có một người đang mong đợi Hội Thánh, người mà Hội Thánh tôn kính với tư cách là Mẹ của Chúa mình và là Mẹ riêng của mình.

“Cũng như ở trên trời, nơi Mẹ đã được vinh quang cả xác cả hồn, Mẹ Chúa Giêsu là hình ảnh và là khởi đầu của Hội Thánh sẽ được hoàn thành ở đời sau như thế nào, thì cũng vậy, nơi trần thế, cho đến khi ngày của Chúa đến, Mẹ sáng chói như dấu chỉ của niềm hy vọng vững chắc và niềm an ủi cho dân lữ hành của Thiên Chúa”[29].

 

Số 2673-2679: Cầu nguyện với Đức Maria

Hiệp thông với Thánh Mẫu của Thiên Chúa

2673. Trong việc cầu nguyện, Chúa Thánh Thần liên kết chúng ta với Ngôi Vị của Người Con Một trong nhân tính đã được tôn vinh của Người. Nhờ và trong nhân tính ấy, lời cầu nguyện con thảo của chúng ta hiệp thông với Thân Mẫu Chúa Giêsu trong Hội Thánh[30].

2674. Từ khi Đức Maria ưng thuận trong đức tin lúc Truyền Tin và không ngần ngại giữ vững sự ưng thuận đó dưới chân thập giá, tình mẫu tử của Mẹ từ đó lan rộng tới những người anh em và chị em của Con Mẹ “còn trên đường lữ hành và đang gặp nhiều hiểm nguy gian khó”[31]. Chúa Giêsu, Đấng trung gian duy nhất, là con đường cầu nguyện của chúng ta. Đức Maria, Mẹ Người và cũng là Mẹ chúng ta, trở thành hình ảnh hoàn toàn trong suốt của Người. Theo cách trình bày bích hoạ của truyền thống Giáo Hội Đông và Tây phương: Mẹ “chỉ đường”, Mẹ là “Dấu chỉ” của Con đường là Chúa Giêsu.

2675. Chính từ sự cộng tác đặc biệt này của Đức Maria với hoạt động của Chúa Thánh Thần, mà các Giáo Hội đã triển khai kinh nguyện dâng lên Thánh Mẫu của Thiên Chúa, quy hướng kinh nguyện ấy về trung tâm là Ngôi Vị Đức Kitô, được biểu lộ trong các mầu nhiệm của Người. Trong vô số thánh thi và điệp ca diễn tả kinh nguyện này, có hai động thái thường thay đổi nhau: một là “ngợi khen” Chúa vì “những điều cao cả” Ngài đã làm cho Mẹ, người nữ tỳ khiêm hạ của Ngài, và qua Mẹ, cho tất cả mọi người[32]; hai là dâng lên Mẹ Chúa Giêsu những lời cầu khẩn và ca ngợi của con cái Thiên Chúa, vì giờ đây Mẹ biết rõ nhân loại, mà trong Mẹ, nhân loại ấy đã được Con Thiên Chúa kết hợp như hiền thê của Người.

2676. Hai động thái nói trên của kinh nguyện dâng lên Đức Maria được diễn tả cách độc đáo trong kinh Kính Mừng:

“Kính mừng Maria” (Ave, Maria – Laetare, Maria): lời chào của thiên sứ Gabriel mở đầu kinh Kính mừng. Chính Thiên Chúa, qua vị thiên sứ của Ngài, chào Đức Maria. Lời kinh của chúng ta dám lặp lại lời chào Đức Maria với tâm tình của Thiên Chúa khi Ngài đoái thương nhìn đến người nữ tỳ hèn mọn của Ngài[33] và hân hoan vì niềm vui mà Thiên Chúa gặp được nơi Đức Maria[34].

“Bà đầy ân phúc, Đức Chúa Trời ở cùng bà”: hai phần lời chào của vị thiên sứ soi sáng cho nhau. Đức Maria đầy ân sủng vì Chúa ở cùng Mẹ. Ân sủng, mà Mẹ được ban tràn đầy, chính là sự hiện diện của Đấng là nguồn mạch mọi ân sủng. “Reo vui lên… hỡi thiếu nữ Giêrusalem… Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi đang ngự giữa ngươi” (Sp 3,14.17a). Đức Maria, vì được chính Chúa đến và ngự nơi Mẹ, nên Mẹ chính là thiếu nữ Sion, là Hòm bia Giao Ước, nơi vinh quang Chúa ngự trị: chính Mẹ là “nhà tạm Thiên Chúa ở cùng nhân loại” (Kh 21,3). Được “đầy ơn phúc”, Mẹ đã tận hiến cho Đấng đến ngự nơi Mẹ và là Đấng Mẹ sắp trao ban cho thế gian.

“Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ và Giêsu con lòng bà gồm phúc lạ”. Sau lời chào của thiên sứ, chúng ta lấy lời chào của bà Êlisabeth làm lời chào của chúng ta. “Được tràn đầy Thánh Thần” (Lc 1,41), bà Êlisabeth là người đầu tiên trong chuỗi dài những thế hệ tung hô Đức Maria là người có phúc[35]: “Em thật có phúc vì đã tin…” (Lc 1,45). Đức Maria “có phúc lạ hơn mọi người nữ” vì Mẹ đã tin rằng lời Chúa sẽ được hoàn thành. Nhờ đức tin, ông Abraham đã trở thành phúc lành cho “mọi gia tộc trên mặt đất” (St 12,3). Nhờ đức tin, Đức Maria đã trở thành Mẹ của các kẻ tin; nhờ Mẹ, mọi dân tộc trên mặt đất được đón nhận Đấng là chính phúc lành của Thiên Chúa: “Giêsu, con lòng bà gồm phúc lạ”.

2677. “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời cầu cho chúng con…”. Cùng với bà Êlisabeth chúng ta sửng sốt: “Bởi đâu tôi được thân mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này?” (Lc 1,43). Đức Maria, vì đã tặng ban cho chúng ta Chúa Giêsu là Con của Mẹ, nên Mẹ là Thân mẫu của Thiên Chúa và là Thân mẫu của chúng ta: chúng ta có thể phó thác cho Mẹ mọi nỗi âu lo và những lời cầu xin của chúng ta. Mẹ cầu nguyện cho chúng ta như Mẹ đã cầu nguyện cho bản thân Mẹ: “Xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1,38). Khi phó thác để Mẹ cầu nguyện cho chúng ta, chúng ta cùng với Mẹ phó dâng bản thân chúng ta cho thánh ý Thiên Chúa: “Nguyện cho ý Cha thể hiện”.

“Cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi nay và trong giờ lâm tử”. Khi xin Đức Mẹ cầu nguyện cho chúng ta, chúng ta nhìn nhận mình là những người tội lỗi khốn cùng và kêu cầu đến “Mẹ của lòng thương xót”, Mẹ hoàn toàn thánh thiện. Chúng ta trao phó bản thân cho Mẹ “khi nay”, là ngày hôm nay của cuộc đời chúng ta. Lòng tín thác của chúng ta được mở rộng để ngay từ bây giờ chúng ta đã trao phó “giờ lâm tử” của chúng ta cho Mẹ. Xin Mẹ hiện diện trong giờ phút đó như Mẹ đã hiện diện lúc Con Mẹ chết trên thập giá. Vào giờ chúng ta qua đời, với tư cách là Mẹ chúng ta[36], xin Mẹ đón nhận và dẫn chúng ta đến với Con của Mẹ, trên thiên đàng.

2678. Lòng đạo đức ở Tây phương thời Trung Cổ đã quảng bá việc cầu nguyện bằng kinh Mân Côi, như một thứ thay thế bình dân cho Các Giờ Kinh phụng vụ. Ở Đông phương, hình thức kinh cầu, như Akathistos và Paraklisis, gần gũi hơn với kinh nguyện cộng đoàn trong các Giáo hội Byzantin; trong khi đó các truyền thống của Armeni, Copte và Syri lại chuộng các thánh thi và thánh ca bình dân kính Mẹ Thiên Chúa. Nhưng kinh Kính Mừng, các thánh thi kính Mẹ Thiên Chúa của thánh Êphrem hoặc của thánh Grêgôriô Narek, về cơ bản vẫn lưu giữ cùng một truyền thống cầu nguyện.

2679. Đức Maria là Người phụ nữ cầu nguyện trọn hảo, là hình ảnh của Hội Thánh. Khi cầu nguyện với Mẹ, chúng ta cùng với Mẹ gắn bó với ý định của Chúa Cha, Đấng sai Con Một Ngài đến để cứu độ tất cả mọi người. Như người môn đệ yêu dấu, chúng ta đón nhận về nhà chúng ta[37] Mẹ Chúa Giêsu, đã trở thành Mẹ của mọi sinh linh. Chúng ta có thể cầu nguyện cùng với Mẹ và kêu cầu Mẹ. Kinh nguyện của Hội Thánh như được nâng đỡ bởi kinh nguyện của Đức Maria. Kinh nguyện này được kết hợp với Mẹ trong niềm hy vọng[38].

Văn Việt (tổng hợp)

Nguồn: WHĐ (13/8/2026)


---------------------

[1] X. 1 Cr 15,21-22.45.

[2] X. Rm 5,19-20.

[3] X. ĐGH Piô IX, Tông sắc Ineffabilis Deus: DS 2803.

[4] X. CĐ Triđentinô, Sess. 6a, Decretum de iustificatione, canon 23: DS 1573.

[5] CĐ Vaticanô II, Hiến chế tín lý Lumen Gentium, 59: AAS 57 (1965) 62; x. ĐGH Piô XII, Tông hiến Munificentissimus Deus (1-11-1950): DS 3903.

[6] Troparium in die dormitionis beatae Mariae Virginis: Opologion to mega (Romae 1876) 215.

[7] CĐ Vaticanô II, Hiến chế tín lý Lumen Gentium, 53: AAS 57 (1965) 59.

[8] X. CĐ Vaticanô II, Hiến chế tín lý Lumen Gentium, 63: AAS 57 (1965) 64.

[9] CĐ Vaticanô II, Hiến chế tín lý Lumen Gentium, 61: AAS 57 (1965) 63.

[10] CĐ Vaticanô II, Hiến chế tín lý Lumen Gentium, 62: AAS 57 (1965) 63.

[11] CĐ Vaticanô II, Hiến chế tín lý Lumen Gentium, 60: AAS 57 (1965) 62.

[12] CĐ Vaticanô II, Hiến chế tín lý Lumen Gentium, 62: AAS 57 (1965) 63.

[13] ĐGH Phaolô VI, Tông huấn Marialis cultus 56: AAS 66 (1974) 162.

[14] CĐ Vaticanô II, Hiến chế tín lý Lumen Gentium, 66: AAS 57 (1965) 65.

[15] X. CĐ Vaticanô II, Hiến chế Sacrosanctum Concilium, 103: AAS 56 (1964) 125.

[16] ĐGH Phaolô VI, Tông huấn Marialis cultus, 42: AAS 66 (1974) 152-153.

[17] ĐGH Phaolô VI, Sollemnis Professio fidei, 15: AAS 60 (1968) 439.

[18] X. Ga 14,30.

[19] X. Ga 12,31; Kh 12,10.

[20] X. Kh 12,13-16.

[21] X. CĐ Vaticanô II, Hiến chế tín lý Lumen Gentium, 48: AAS 57 (1965) 53.

[22] ĐGH Gioan Phaolô II, Tông thư Mulieris dignitatem, 27: AAS 80 (1988) 1718.

[23] X. Ep 5,27.

[24] ĐGH Gioan Phaolô II, Tông thư Mulieris dignitatem 27: AAS 80 (1988) 1718, nota 55.

[25] CĐ Vaticanô II, Hiến chế tín lý Lumen Gentium, 65: AAS 57 (1965) 64.

[26] CĐ Vaticanô II, Hiến chế tín lý Lumen Gentium, 53: AAS 57 (1965) 59.

[27] X. CĐ Vaticanô II, Hiến chế tín lý Lumen Gentium, 63: AAS 57 (1965) 64.

[28] CĐ Vaticanô II, Hiến chế tín lý Lumen Gentium, 69: AAS 57 (1965) 66-67.

[29] CĐ Vaticanô II, Hiến chế tín lý Lumen Gentium, 68: AAS 57 (1965) 66.

[30] X. Cv 1,14.

[31] X. CĐ Vaticanô II, Hiến chế tín lý Lumen gentium, 62: AAS 57 (1965) 63.

[32] X. Lc 1,46-55.

[33] X. Lc 1,48.

[34] X. Sp 3,17.

[35] X. Lc 1,48.

[36] X. Ga 19,27.

[37] X. Ga 19,27.

[38] X. CĐ Vaticanô II, Hiến chế tín lý Lumen gentium, 68-69: AAS 57 (1965) 66-67.