Nghi thức rửa tội vốn đã khá phổ biến trong truyền thống Do Thái, một truyền thống thực hành các nghi thức tẩy uế bằng nước nhằm đạt tới sự thanh sạch theo nghi lễ. Trong các môi trường của cộng đoàn Qumrân (bên bờ Biển Chết), người ta cũng biết đến những thực hành rửa tội, gắn liền với các hành vi sám hối. Thực tế, có thể tồn tại một mối liên hệ nào đó giữa phép rửa của Gioan Tẩy Giả, phép rửa của sự sám hối, với cộng đoàn Qumrân. Kể từ khoảng năm 80 sau công nguyên, các nhà lãnh đạo Do Thái đòi hỏi những người tòng giáo phải chịu một phép rửa duy nhất, không thể lặp lại.

Giáo Hội nhìn nhận phép Rửa tội là một bí tích do chính Đức Giêsu Kitô thiết lập. Hội Thánh không có quyền “phát minh” ra một bí tích, bởi vì chính Giáo Hội được hình thành nhờ các bí tích. Tuy nhiên, chúng ta không thấy Đức Giêsu thực hiện một cử chỉ rõ ràng nào để thiết lập bí tích Rửa tội, như Người đã thiết lập bí tích Thánh Thể. Nhưng, khát vọng muốn gắn từng bí tích với một cử chỉ chính xác của Đức Giêsu là một cách tiếp cận quá hẹp. Ở đây, cần phải quy chiếu không chỉ vào những cử chỉ của Đức Giêsu với tư cách là Đấng tạo dựng Hội Thánh, mà còn vào chính con người và biến cố của Đức Giêsu như là nền tảng của Giáo Hội, và vào chính Đức Giêsu như là “bí tích nguyên thủy” của ơn cứu độ.

Trong trường hợp của bí tích Rửa tội, chúng ta có lệnh truyền về phép rửa trong Tin Mừng Matthêu chương 28, câu 19, một bản văn của Đức Kitô Phục Sinh, đồng thời cũng là một bản văn muộn, vốn giả định rằng việc rửa tội đã là điều hiển nhiên. Không nơi nào trong Kinh Thánh chỉ cho biết các Tông đồ đã được rửa bằng nước, trong khi đó lại có nói rõ rằng các ngài đã lãnh nhận Thánh Thể. Theo chính lời Đức Giêsu, điều tương đương với phép rửa bằng nước ấy chính là phép rửa trong Thánh Thần, được hứa ban vào ngày lễ Ngũ Tuần (Cv 1, 5).

Nhưng chúng ta còn có nhiều hơn một cử chỉ thiết lập: chúng ta có biến cố Đức Giêsu chịu phép rửa bởi ông Gioan trong sông Giođan, qua đó phép rửa bằng nước được biến đổi thành phép rửa trong Thánh Thần; và chúng ta cũng có cuộc Khổ nạn của Đức Giêsu, mà chính Người gọi là “phép rửa” của mình: một phép rửa bằng nước và một phép rửa bằng máu. Phép rửa của Đức Giêsu, một sự kiện được chứng thực vững chắc về mặt lịch sử, vừa là một cử chỉ sám hối, vừa là một hành động tương trưng diễn tả trước cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu: Người đi xuống trong dòng nước của sự chết để từ đó trỗi dậy trong sự sống. Phép rửa này là nơi diễn ra một cuộc thần hiện Ba Ngôi, một mạc khải về Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần; đó là biến cố tôn phong Đức Giêsu Kitô. Chính nhân danh Ba Ngôi được mạc khải trong phép rửa của Đức Giêsu mà mọi Kitô hữu được lãnh nhận bí tích Rửa tội. Trong phép rửa ấy, Đức Giêsu biến đổi thế giới thụ tạo thành một công trình tạo dựng mới; phép rửa của sự sám hối trở thành phép rửa của sự công chính hóa. Chính Người thánh hiến nước. Tương tự như vậy, cuộc Thương Khó là hành động khai dẫn, mở đầu của Đức Giêsu vào sự sống vinh hiển, đó là ngưỡng cửa quyết định, là ngọn lửa khát khao đang nung nấu trái tim Chúa Giêsu và là chén Người phải uống. Nghịch lý thay, Đức Giêsu đã thiết lập bí tích Rửa tội bằng cách chính Người lãnh nhận nó hai lần.

Lời hứa ban Thánh Thần

Giai đoạn thứ ba của việc thiết lập bí tích Rửa tội chính là lời hứa ban Thánh Thần, được loan báo cho các môn đệ như là phép rửa của họ. Điều này giúp chúng ta hiểu cách thế các Tông đồ đã được “rửa tội”: trước hết, phép rửa của họ là sự khai mở đối với Tin Mừng, mà họ đã lãnh nhận khi đồng hành cùng với Đức Giêsu và chia sẻ đời sống với Người. Trong biến cố rửa chân cho các môn đệ, Đức Giêsu ám chỉ điều này khi Người nhắc lại chủ đề của phép rửa: ‘‘Ai đã tắm rồi, thì không cần phải rửa nữa; toàn thân người ấy đã sạch. Về phần anh em, anh em đã sạch, nhưng không phải tất cả đâu” (Ga 13,10); hoặc: “Anh em đã được thanh sạch nhờ lời Thầy đã nói với anh em”. Quả thế, việc rửa chân mang một ý nghĩa của tính bí tích Rửa tội. Tuy nhiên, sự khai tâm mở đầu của các môn đệ chỉ được hoàn tất khi Đức Giêsu đã lãnh nhận chính “phép rửa” của Người và khi các Tông đồ tham dự vào đó trong đức tin. Họ cần đến ân ban của Chúa Thánh Thần. Trong Tin Mừng Gioan, đó là lời: ‘‘Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần’’ vào chính buổi tối ngày Phục Sinh (Ga 20,22-23); còn trong Tin Mừng Luca, đó là lời hứa và sự ban tặng Chúa Thánh Thần vào ngày lễ Ngũ Tuần. Chính trong bối cảnh này mà cần phải hiểu cho đúng lệnh truyền về phép rửa trong Tin Mừng Matthêu, chương 28. Giáo Hội sẽ không bao giờ loan truyền phép rửa Kitô giáo, nếu chính Đức Giêsu đã không chịu phép rửa, trước hết trong nước và trong Thánh Thần, rồi sau đó trong cái chết và sự phục sinh của Người.


Lm. Giuse Nguyễn Tùng Anh chuyển ngữ theo Báo La Croix