Người ta thường nói: “Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn.” Qua ánh mắt, ta có thể nhận ra những gì đang diễn ra trong lòng một con người: niềm vui hay nỗi buồn, hy vọng hay thất vọng, yêu thương hay giận dữ. Nhờ đôi mắt thể xác, như thánh Thêôphilô, Giám mục Antiôkhia, đã viết trong tác phẩm gửi cho Autôlicô “con người có thể nhận ra những sự việc diễn ra trong cuộc sống trần gian này. Chính đôi mắt giúp họ phân biệt ánh sáng với bóng tối, trắng với đen, đẹp với xấu, thanh nhã với thô thiển, cân xứng với bất cân xứng, ngắn với dài.”

Nhưng để đôi mắt có thể nhìn thấy, con người cần có ánh sáng. Không có ánh sáng, đôi mắt dù khỏe mạnh đến đâu cũng trở nên vô dụng. Khi sống trong bóng tối, con người không thể nhận ra con đường mình đang đi, không thấy được vẻ đẹp của thế giới chung quanh, cũng không thể nhận ra khuôn mặt của người khác; nhất là không thể chiêm ngắm những kỳ công mà Thiên Chúa đã tạo dựng. Vì thế, mù lòa luôn là một trong những nỗi bất hạnh lớn của con người. Người mù không chỉ mất đi khả năng nhìn thấy thế giới, mà còn phải sống trong màn đêm kéo dài suốt cuộc đời.

Bài Tin Mừng hôm nay kể cho chúng ta nghe câu chuyện về một người mù từ khi mới sinh. Suốt cả cuộc đời, anh chưa từng biết ánh sáng là gì. Cuộc sống của anh chìm trong bóng tối và lệ thuộc vào lòng thương hại của người khác. Thế nhưng, cuộc gặp gỡ với Đức Giêsu đã làm thay đổi hoàn toàn cuộc đời anh. Không chỉ đôi mắt thể lý của anh được mở ra để nhìn thấy ánh sáng, mà đôi mắt tâm hồn của anh cũng được mở ra để nhận ra và tin vào Đức Giêsu – Đấng là Ánh Sáng thế gian.

Tin Mừng thuật lại rằng người thanh niên này mù từ lúc mới sinh. Anh hoàn toàn không có khả năng nhìn thấy và cũng chẳng có khái niệm nào về ánh sáng. Cả cuộc đời anh bị bao phủ bởi một màn đêm dày đặc. Tuy vậy, sâu thẳm trong tâm hồn anh vẫn le lói một tia hy vọng: hy vọng một ngày nào đó gặp được một vị thầy, một lương y có thể chữa lành đôi mắt mình. Chính niềm hy vọng ấy giúp anh tiếp tục sống; và chính khát khao ánh sáng ấy giúp anh kiên nhẫn bước đi giữa bao lời xì xầm và dè bỉu của người đời.

Khi thấy anh, các môn đệ đã hỏi Đức Giêsu: “Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta?” (Ga 9,2). Trước câu hỏi ấy, Đức Giêsu đã đưa ra một câu trả lời hoàn toàn khác với suy nghĩ của người đương thời: “Không phải anh ta, cũng không phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng sở dĩ như thế là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa tỏ hiện nơi anh.” (Ga 9,3). Nhờ quyền năng của Đức Giêsu, người mù đã được chữa lành. Đôi mắt anh được mở ra để nhìn thấy ánh sáng mà anh hằng khao khát. Nhưng phép lạ ấy không chỉ nhằm chữa lành một con người, mà còn để mọi người nhận ra rằng Đức Giêsu chính là “Ánh sáng thế gian” (x. Ga 9,5), Đấng có quyền ban cho con người khả năng được thấy. Ngài chính là Đấng được Thiên Chúa xức dầu, thuộc dòng dõi Đavít, Đấng đến để dẫn đưa con người ra khỏi bóng tối và bước đi trong ánh sáng, trở thành con cái ánh sáng.

Trong câu chuyện Tin Mừng hôm nay, chúng ta thấy một sự tương phản rất rõ giữa người mù và các thầy Pharisêu. Nơi người mù, mặc dù đôi mắt thể lý của anh không nhìn thấy, nhưng đôi mắt tâm hồn lại rất sáng. Anh tin tưởng và vâng theo lời Đức Giêsu khi đi rửa mắt ở hồ Silôác (Ga 9,7). Con mắt đức tin của anh lớn lên từng bước. Ban đầu, anh chỉ biết Đức Giêsu là “một người tên là Giêsu” (c.11). Sau đó, anh nhận ra Người là “một vị ngôn sứ” (c.17). Và cuối cùng, khi gặp lại Đức Giêsu, anh đã tuyên xưng: “Thưa Ngài, tôi tin.” (Ga 9,38). Như vậy, người mù đã nhận ra Đức Giêsu vì anh biết mở con mắt của tâm hồn. Con mắt đức tin của anh được nuôi dưỡng bởi lòng khiêm nhường và niềm khát khao chân lý.

Trái lại, các thầy Pharisêu lại có đôi mắt thể lý rất sáng, nhưng đôi mắt tâm hồn thì dường như đã khép lại trước ánh sáng. Họ nói về Đức Giêsu rằng: “Ông ấy không thể là người của Thiên Chúa được, vì không giữ ngày sabát.” (Ga 9,16). Mặc dù chứng kiến biết bao dấu lạ Đức Giêsu đã thực hiện, họ vẫn không nhận ra Ngài chính là Đấng Mêsia mà muôn dân mong đợi, Đấng đến để giải thoát con người khỏi ách nô lệ của tội lỗi. Họ đã khép lòng mình trong sự kiêu ngạo và định kiến. Chính điều đó làm cho họ sống trong sự mù lòa. Đúng như lời ngôn sứ Isaia đã nói: “Các ngươi có lắng tai nghe cũng chẳng hiểu, có trố mắt nhìn cũng chẳng thấy, vì lòng dân này đã ra chai đá.” (Mt 13,14-15)

Khi sinh ra, dù chúng ta không bị mù về thể lý, nhưng tội nguyên tổ đã làm cho đôi mắt tâm hồn chúng ta trở nên u tối. Tuy nhiên, qua Bí tích Rửa tội, Đức Kitô đã mở mắt đức tin cho chúng ta, để chúng ta nhận biết Ngài là Đấng Cứu Độ và trở thành con cái của Thiên Chúa. Như thánh Phaolô nhắc nhở: “Xưa anh em là bóng tối, nhưng giờ đây trong Chúa, anh em là ánh sáng. Vậy anh em hãy sống như con cái ánh sáng.” Thế nhưng, trong cuộc sống, con người luôn bị giằng co giữa ánh sáng và bóng tối, giữa điều thiện và sự dữ, giữa cái được và cái mất. Vì thế, nhiều khi chính chúng ta cũng tự làm cho mình trở nên mù lòa: chúng ta tìm cách tránh né sự thật, tạo ra những xác tín giả tạo để biện minh cho những hành động của mình, và khép mắt lại trước ánh sáng của Thiên Chúa. Ánh sáng ấy luôn có những đòi hỏi. Nó buộc ta phải xét lại đời sống của mình, từ bỏ những thói quen xấu, thậm chí thay đổi cả cách sống. Chính vì thế mà nhiều người sợ ánh sáng; họ thích ở lại trong bóng tối dù đôi mắt vẫn mở. Có khi chúng ta tưởng rằng mình đang nhìn thấy, nhưng thực ra tâm hồn lại đang bị che phủ bởi những bóng tối của ích kỷ, kiêu căng, thành kiến và vô cảm.

Ước gì mỗi người chúng ta luôn biết bước ra khỏi bóng tối của tội lỗi và ích kỷ, biết mở rộng tâm hồn để sống trong ánh sáng của Tin Mừng, hầu trở nên những người con của ánh sáng, mang ánh sáng của tình yêu, sự thật và lòng thương xót đến cho thế giới hôm nay. Amen.


Lm. Gioakim Nguyễn Xuân Văn