
CÓ MỘT NGƯỜI MỤC TỬ MÌNH CHƯA TỪNG GẶP
Tâm tình của một người trẻ nhân ngày giỗ lần thứ 49 Đức Cha Phêrô Maria Khuất Văn Tạo
(18.8.1977 – 18.8.2026)
Mình thuộc về một thế hệ sinh ra khi Đức Cha Phêrô Maria Khuất Văn Tạo đã qua đời và rời xa Giáo phận Hải Phòng từ rất lâu, nên mình chưa từng được nhìn thấy ngài bước qua sân Tòa Giám mục, chưa từng được đứng giữa cộng đoàn để nghe ngài giảng lễ, cũng chưa từng được cúi đầu đón nhận phép lành từ vị mục tử đã dành hơn hai mươi năm cuộc đời để coi sóc đoàn chiên Hải Phòng. Những gì mình biết về Đức Cha đều đến từ những người đi trước, từ những câu chuyện được kể lại trong gia đình Giáo phận, từ phần mộ của ngài nơi Nhà thờ Chính Tòa, và nhất là từ những trang sách trong Chứng từ của một mục tử mà mình có dịp đọc khi tìm hiểu về lịch sử Giáo phận.
Vì không có những ký ức trực tiếp về Đức Cha, mình cũng không muốn viết về ngài như thể mình đã biết và hiểu hết một con người thuộc về một thời đại cách mình gần nửa thế kỷ. Mình chỉ muốn kể lại cảm nhận của một người trẻ hôm nay, khi được nghe về ngài, được đọc những điều ngài đã ghi lại, được biết thêm về một quãng đời của Giáo phận mà thế hệ mình chỉ có thể hình dung qua lời kể của quý Cha cố, quý ông bà và những người đi trước, rồi từ những điều ấy tự hỏi rằng một người mục tử của quá khứ có thể để lại điều gì cho những người trẻ đang sống trong Giáo phận hôm nay. Và đó, mình gặp một người mục tử qua những trang sách ‘Hồi ký của Đức Cha Giáo phận Hải Phòng - Đức Cha Phêrô Maria Khuất Văn Tạo”.

Cuốn Chứng từ của một mục tử đưa mình đến gần Đức Cha Phêrô Maria theo một cách khá đặc biệt, bởi phần hồi ký trong cuốn sách không phải là những câu chuyện được người đời sau viết lại về ngài, nhưng là những ghi chép do chính Đức Cha để lại. Phần “Đôi điều về bản văn” cho biết bản hồi ký gồm 360 trang, được chia thành 18 mục, trong đó những sự kiện được ghi lại chủ yếu thuộc những năm đầu trong sứ vụ Giám mục của ngài, và sự kiện muộn nhất được ghi vào ngày 17 tháng 9 năm 1964.¹
Khi đọc những trang ấy, mình nhận ra rằng lịch sử đôi khi không hiện ra qua những điều lớn lao như mình vẫn thường hình dung, nhưng lại được lưu giữ bằng những ngày tháng, những chuyến đi, những lần gặp gỡ, những tên người, tên giáo xứ và rất nhiều công việc mục vụ bình thường. Khi những chi tiết ấy được đặt cạnh nhau, mình dần hình dung được bóng dáng của một người mục tử đã sống giữa đoàn chiên của mình, đã cùng Giáo phận đi qua một chặng đường dài và đã dành những năm tháng quan trọng của cuộc đời để gắn bó với sứ mạng mà Giáo hội trao phó.
Trong phần giới thiệu cuốn sách, cha Giuse Nguyễn Văn Thông đã nhận định rằng những trang hồi ký ấy, dù chỉ ghi lại một phần cuộc đời Giám mục của Đức Cha, cũng đủ để: “khắc hoạ nên chân dung của một vị Mục Tử hy sinh đau khổ, kiên trì nhẫn nại và là chứng nhân cho lòng trung thành với Chúa và Giáo hội.”² Khi đọc câu này, mình không muốn dừng quá lâu ở những đau khổ mà Đức Cha đã trải qua, bởi hoàn cảnh của Giáo phận và của xã hội trong những năm tháng ấy có rất nhiều điều phức tạp mà một người trẻ sống sau gần nửa thế kỷ như mình khó có thể hiểu hết, và có lẽ cũng không cần phải nhắc lại tất cả trong một bài viết. Điều khiến mình suy nghĩ nhiều hơn chính là hình ảnh một người mục tử được nhắc đến với sự “kiên trì nhẫn nại” và với lòng “trung thành với Chúa và Giáo hội”, bởi những điều ấy không chỉ thuộc về một giai đoạn lịch sử đã qua mà vẫn là những giá trị rất gần với đời sống đức tin của mỗi người hôm nay.

Thế hệ của mình đang sống trong một thời đại có rất nhiều cơ hội, rất nhiều lựa chọn và mọi thứ cũng thay đổi rất nhanh, đến mức đôi khi con người dễ bắt đầu một điều nhưng lại khó kiên trì với điều ấy đến cùng. Vì thế, khi nhìn lại một người đã dành hơn hai mươi năm trong sứ vụ chủ chăn tại Hải Phòng, mình cảm nhận rằng một trong những di sản đẹp nhất Đức Cha để lại không chỉ nằm ở những công việc ngài đã thực hiện, nhưng còn nằm trong chính sự bền bỉ của một người đã gắn bó với ơn gọi, với sứ mạng và với đoàn chiên được trao phó cho mình.
Bạn biết đấy, khẩu hiệu Giám mục của Đức cha là “chiến thắng trong bác ái”. Trong phần giới thiệu Chứng từ của một mục tử, có một câu mình đặc biệt muốn giữ lại, bởi câu ấy giúp mình hiểu hơn về tinh thần mà Đức Cha đã chọn để sống sứ vụ của mình. Cha Giuse Nguyễn Văn Thông viết: “Giữa bao nghịch cảnh và thiếu thốn trăm bề, Đức Cha Phêrô Maria vẫn bình an trong niềm phó thác như khẩu hiệu Giám mục của ngài: Chiến thắng trong bác ái.”³ Năm chữ “chiến thắng trong bác ái”, mình cảm thấy đây có lẽ là một trong những điều mà một người trẻ hôm nay có thể mang theo sau khi đọc lại cuộc đời Đức Cha, bởi mình không cần phải sống trong hoàn cảnh của ngài mới hiểu được rằng bác ái luôn là một lựa chọn khó, nhất là khi con người phải đối diện với những điều không diễn ra như mình mong muốn.

Điều mình cảm nhận nơi cuộc đời Đức Cha là cách một người mục tử đã giữ lấy đức tin và sứ mạng của mình giữa những đổi thay, và mình nhận ra rằng khẩu hiệu “chiến thắng trong bác ái” đã nói lên rất nhiều điều mà đôi khi một bài viết dài cũng khó diễn tả cho hết.
Theo cách mình cảm nhận, bác ái không có nghĩa là con người không gặp những khác biệt, những tổn thương hay những điều khiến mình buồn lòng, nhưng bác ái giúp người Kitô hữu không để những điều ấy trở thành lý do khiến trái tim mình khép lại. Khi một người lựa chọn bác ái, người ấy vẫn có thể có những thao thức, những ưu tư và cả những điều không đồng tình, nhưng người ấy cố gắng để tình yêu dành cho Chúa, cho Giáo hội và cho con người trở thành điều lớn hơn những gì có thể làm mình thất vọng. Theo mình, Đức Cha đã sống bác ái tất cả vì Chúa Kitô.
Có lẽ vì thế mà sau gần nửa thế kỷ, khẩu hiệu Giám mục của Đức Cha vẫn có thể nói với thế hệ của mình một điều rất gần gũi, bởi người trẻ hôm nay tuy sống trong một hoàn cảnh hoàn toàn khác nhưng vẫn cần học cách đối diện với những khác biệt, những va chạm và những lựa chọn mỗi ngày. Nếu mình có thể học được từ một người mục tử của thế hệ trước cách đặt bác ái vào trong những lựa chọn ấy, thì lịch sử lúc đó không còn chỉ là chuyện của ngày hôm qua, nhưng đã trở thành một phần của đời sống hôm nay.
Trong những phần mình được đọc của Chứng từ của một mục tử, bản di chúc Đức Cha viết tại Tòa Giám mục Hải Phòng ngày 31 tháng 5 năm 1974 là một trong những đoạn khiến mình cảm thấy xúc động, bởi khi một người biết rằng hành trình của mình rồi sẽ đến lúc phải khép lại, những điều người ấy lựa chọn để nhắc đến thường cũng là những điều đã chiếm một vị trí quan trọng trong trái tim họ. Ở cuối bản di chúc, Đức Cha viết: ““Thưa Đức Cha, con đi để Đức Cha ở lại với đoàn chiên Đức Cha nhận dẫn đầu, con không biết nói gì hơn là cúi đầu chào vĩnh biệt Đức Cha khả kính và địa phận thân mến cùng luôn nhớ cầu cho Đức Cha cũng như cho địa phận cùng chờ cho đến ngày lại được hội ngộ nơi nhà Chúa trên trời là nơi hằng sống hằng trị đời đời. Amen.”¹⁰ (‘Đức Cha’ được nhắc tới trong câu này là Đức Cố Giám mục Phalo Phạm Đình Tụng, giám mục chính Toà Bắc Ninh. Đức Cha Cố Phêrô Maria xin Đức Cha Phaolô chăm sóc cho Giáo phận Hải Phòng khi ngài qua đời).”⁴
Ngay sau đó, ngài ghi: “Tại Toà giám mục Hải Phòng 31-5-1974. Chính tay tôi đã viết và ký tên. Phêrô Maria Khuất Văn Tạo, giám mục Hải Phòng.”⁵

Hai chữ rất bình thường mà Đức Cha dùng để gọi Giáo phận của mình: “địa phận thân mến!”. Giữa một bản di chúc, khi người viết đang nghĩ đến những điều sẽ còn lại sau cuộc đời mình, Đức Cha không chỉ gọi Hải Phòng bằng tên của một địa phận mà ngài được trao trách nhiệm coi sóc, nhưng ngài gọi nơi ấy là “thân mến”, và chỉ hai chữ ấy thôi cũng đủ để một người thuộc thế hệ sau như mình cảm nhận được phần nào tình cảm của vị mục tử dành cho đoàn chiên đã gắn bó với cuộc đời ngài.
Mình không biết vào ngày 31 tháng 5 năm 1974, khi ngồi tại Tòa Giám mục Hải Phòng và tự tay viết những dòng ấy, Đức Cha đã nghĩ đến những ai và những nơi nào. Có thể trong ký ức của ngài lúc ấy là những linh mục đã cùng cộng tác, những giáo dân ngài từng gặp, những giáo xứ ngài từng đến, những con đường ngài từng đi qua, hay đơn giản chỉ là hình ảnh của một Giáo phận mà ngài đã dành một phần rất dài của cuộc đời để yêu thương và phục vụ. Mình không thể biết những điều đó nếu tài liệu không ghi lại, nhưng chính vì không biết nên mình càng thấy hai chữ “thân mến” đáng quý, bởi chúng là những chữ do chính Đức Cha lựa chọn và tự tay viết.

Đối với mình, một vị Giám mục của lịch sử vì thế không còn chỉ hiện lên qua tên gọi Phêrô Maria Khuất Văn Tạo và hai mốc thời gian 1956–1977, nhưng còn hiện lên như một người cha đã coi Giáo phận này là nơi thân mến của mình, đã mang Giáo phận trong những thao thức của đời mục tử, và đến khi nghĩ về ngày mình không còn hiện diện giữa đoàn chiên nữa, ngài vẫn mong mọi người nhớ cầu nguyện cho mình và cho cả Giáo phận.
Điều mình thấy thật hay, trong những dòng cuối của bản di chúc là Đức Cha không nhìn cuộc chia ly như một dấu chấm hết, bởi sau khi xin mọi người nhớ cầu nguyện, ngài viết rằng tất cả sẽ “cùng chờ cho đến ngày lại được hội ngộ nơi nhà Chúa trên trời”.⁶
Khi đọc những chữ ấy trong ngày giỗ lần thứ 49 của Đức Cha, mình cảm nhận rõ hơn vẻ đẹp của niềm hy vọng Kitô giáo, bởi đối với một người có đức tin, sự ra đi của một người thân yêu không làm cho mối dây hiệp thông hoàn toàn chấm dứt. Người đã khuất được trao phó cho lòng thương xót của Thiên Chúa, còn những người ở lại tiếp tục nhớ đến họ trong lời cầu nguyện, trong Thánh lễ và trong chính cách mình gìn giữ những điều tốt đẹp mà họ đã trao lại.
Có lẽ Đức Cha đã không thể hình dung rằng gần 50 năm sau ngày ngài qua đời, sẽ có những người trẻ sinh ra rất lâu sau thời của ngài mở lại những trang sách cũ và đọc những dòng ngài đã viết. Ngài cũng không thể biết tên của chúng mình, không biết chúng mình đang sống ra sao và Giáo phận Hải Phòng sau gần nửa thế kỷ sẽ có diện mạo như thế nào, nhưng lời mời gọi “cùng chờ” trong bản di chúc lại khiến mình cảm thấy giữa những thế hệ tưởng như rất xa nhau vẫn có một sự nối kết âm thầm trong cùng một Giáo hội.
Đức Cha Phêrô Maria Khuất Văn Tạo qua đời ngày 18 tháng 8 năm 1977, và những hồi ức được ghi lại trong Chứng từ của một mục tử cho biết khi tin ngài qua đời được loan đi, nhiều giáo dân từ các giáo xứ đã tìm về Hải Phòng để kính viếng và cầu nguyện cho vị chủ chăn của mình.⁷ Sau Thánh lễ an táng ngày 22 tháng 8 năm 1977, thi hài Đức Cha được an táng trong Nhà thờ Chính Tòa Hải Phòng, nơi ngài đã gắn bó trong những năm tháng coi sóc Giáo phận.⁸
(Nơi Đức Cha Cố an nghỉ tại giữa lòng gian cung thánh)
Mỗi khi nghĩ đến hình ảnh ấy, mình cảm thấy có một điều gì đó rất gần gũi trong việc một người mục tử sau những năm tháng phục vụ cuối cùng lại được nằm lại giữa lòng Giáo phận mà mình từng gọi bằng hai chữ “thân mến”. Hôm nay, những người trẻ như mình có thể bước vào Nhà thờ Chính Tòa, có thể tham dự một Thánh lễ, có thể đến cầu nguyện hoặc chỉ đơn giản đi ngang qua nơi Đức Cha an nghỉ, rồi sau đó lại tiếp tục với việc học, công việc và những sinh hoạt rất bình thường của đời sống, nhưng nếu biết dừng lại một chút, mình sẽ nhận ra rằng dưới cùng một mái nhà thờ ấy đang lưu giữ ký ức về một người đã dành những năm tháng của đời mình cho Giáo phận mà hôm nay mình được thừa hưởng.
Chính điều ấy khiến mình hiểu rằng việc tìm hiểu lịch sử Giáo phận không chỉ giúp người trẻ biết thêm những tên tuổi, những niên đại hay những biến cố đã xảy ra, nhưng còn giúp chúng mình nhận ra rằng đời sống Giáo phận hôm nay không bắt đầu từ thế hệ của mình. Trước khi mình có mặt, đã có biết bao người cầu nguyện, phục vụ và trao truyền đức tin; trước khi mình gọi Giáo phận Hải Phòng là mái nhà của mình, đã có những thế hệ cũng yêu mến mái nhà ấy và dành cả cuộc đời để gìn giữ, xây dựng ngôi nhà Giáo Hội thân thương ấy!
Ngày 18 tháng 8 năm 2026 đánh dấu 49 năm kể từ ngày Đức Cha Phêrô Maria Khuất Văn Tạo về với Chúa, và mình vẫn chỉ là một người trẻ chưa từng gặp ngài, chỉ biết về ngài qua những điều được nghe, được kể và được đọc. Tuy nhiên, chính khoảng cách ấy lại giúp mình nhận ra một điều rất đẹp của đời sống Giáo hội, đó là đức tin và ký ức không chỉ được trao truyền bởi những người đã trực tiếp gặp nhau, nhưng còn được trao từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng lời kể, bằng những trang sách, bằng những nơi chốn lưu giữ ký ức và bằng chính đời sống của một cộng đoàn vẫn đang tiếp tục hành trình.
Trong lời giới thiệu Chứng từ của một mục tử, cha Giuse Nguyễn Văn Thông đã bày tỏ mong ước rằng: “Nếu những trang hồi ký này làm cho chúng ta thêm tín thác vào quyền năng và tình thương của Thiên Chúa, giúp chúng ta yêu mến và có trách nhiệm với Giáo phận này hơn, củng cố niềm tự hào của chúng ta về một vị mục tử sẵn sàng hi sinh vì đoàn chiên, thì đó chính là phần thưởng to lớn dành cho chúng tôi.”⁹
Khi khép lại những dòng tâm sự về Đức Cha, mình nghĩ rằng điều quan trọng nhất đối với một người trẻ không phải là mình có thể nhớ được bao nhiêu sự kiện trong cuộc đời ngài, nhưng là sau khi biết thêm về một người đã đi trước, mình có yêu mến Giáo phận này hơn một chút hay không, mình có biết trân trọng những gì thế hệ trước đã trao lại hay không, và mình có ý thức rằng đến lượt thế hệ của mình cũng phải góp một phần nhỏ bé để tiếp tục xây dựng đời sống đức tin của Giáo phận hay không. Đó thật là điều quý báu!
Trong ngày giỗ lần thứ 49 của Đức Cha Phêrô Maria, mình muốn giữ lại và nhắc lại lời này của ngài cuối di chúc: “Thưa Đức Cha, con đi để Đức Cha ở lại với đoàn chiên Đức Cha nhận dẫn đầu, con không biết nói gì hơn là cúi đầu chào vĩnh biệt Đức Cha khả kính và địa phận thân mến cùng luôn nhớ cầu cho Đức Cha cũng như cho địa phận cùng chờ cho đến ngày lại được hội ngộ nơi nhà Chúa trên trời là nơi hằng sống hằng trị đời đời. Amen.”¹⁰ (‘Đức Cha’ được nhắc tới trong câu này là Đức Cố Giám mục Phalo Phạm Đình Tụng, giám mục chính Toà Bắc Ninh. Đức Cha Cố Phêrô Maria xin Đức Cha Phaolô chăm sóc cho Giáo phận Hải Phòng khi ngài qua đời).

Gần nửa thế kỷ đã trôi qua, nhiều điều thuộc về thời của Đức Cha đã trở thành lịch sử, nhưng lời ngài gọi Hải Phòng là “địa phận thân mến” vẫn khiến một người trẻ của hôm nay cảm thấy gần gũi, bởi Giáo phận mà Đức Cha đã yêu mến và phục vụ năm xưa cũng chính là Giáo phận mà thế hệ chúng mình đang được sống, được đón nhận đức tin và được mời gọi góp phần xây dựng hôm nay.
Và có lẽ, trong ngày tưởng nhớ này, mình không biết nói điều gì đẹp hơn ngoài việc cùng với cộng đoàn dâng một lời cầu nguyện cho Đức Cha, đồng thời xin Chúa giúp thế hệ trẻ chúng mình biết trân trọng gia sản đức tin đã được trao lại, biết yêu mến Giáo phận bằng những việc làm cụ thể trong đời sống của mình, và biết học nơi người mục tử năm xưa cách sống trung thành, phó thác và luôn tìm kiếm một sự “chiến thắng trong bác ái”, để một ngày nào đó, như chính lời Đức Cha đã viết, tất cả chúng ta lại được “hội ngộ nơi nhà Chúa trên trời”.
Xin Vâng. 18-8-2026
Chú thích và nguồn trích dẫn
1. Phêrô Maria Khuất Văn Tạo – Giám mục Giáo phận Hải Phòng 1956–1977: Chứng từ của một mục tử, Hội Thân Hữu Giáo Phận Hải Phòng, 2018, mục “Đôi điều về bản văn”. Phần này cho biết bản “Hồi ký” gồm 360 trang, chia thành 18 mục và sự kiện muộn nhất được ghi ngày 17.9.1964. Tập sách này tìm thấy ở văn khố Toà giám mục Xã Đoài (Vinh).
2. Lm. Giuse Nguyễn Văn Thông, “Lời giới thiệu”, trong Chứng từ của một mục tử, Hội Thân Hữu Giáo Phận Hải Phòng, 2018.
3. Lm. Giuse Nguyễn Văn Thông, “Lời giới thiệu”, sđd. Nguyên văn: “Giữa bao nghịch cảnh và thiếu thốn trăm bề, Đức Cha Phêrô Maria vẫn bình an trong niềm phó thác như khẩu hiệu Giám mục của ngài: chiến thắng trong bác ái.”
4. Đức Cha Phêrô Maria Khuất Văn Tạo, Di chúc, ngày 31.5.1974, trong Chứng từ của một mục tử, tr. 262. Phần trích dẫn trong bài giữ nguyên văn bản nguồn.
5. Đức Cha Phêrô Maria Khuất Văn Tạo, Di chúc, ngày 31.5.1974, sđd., tr. 262.
6. Đức Cha Phêrô Maria Khuất Văn Tạo, Di chúc, ngày 31.5.1974, sđd., tr. 262.
7. Chứng từ của một mục tử, phần “Lưu danh thiên cổ – Hồi ức về tang lễ Đức Cha Phêrô Maria Khuất Văn Tạo”.
8. Chứng từ của một mục tử, phần “Lưu danh thiên cổ – Hồi ức về tang lễ Đức Cha Phêrô Maria Khuất Văn Tạo”. Tài liệu ghi Đức Cha được an táng trong Nhà thờ Chính Tòa Hải Phòng sau Thánh lễ an táng ngày 22.8.1977.
9. Lm. Giuse Nguyễn Văn Thông, “Lời giới thiệu”, trong Chứng từ của một mục tử, Hội Thân Hữu Giáo Phận Hải Phòng, 2018.
10. Đức Cha Phêrô Maria Khuất Văn Tạo, Di chúc, ngày 31.5.1974, trong Chứng từ của một mục tử, tr. 262.
