
Cuộc đời này giống như đại dương bao la, với biết bao giông tố phũ phàng. Sống trên đời là đang từng bước vượt qua đại dương. Giữa bối cảnh xã hội thật giả lẫn lộn, người tin Chúa phải luôn thận trọng khôn ngoan, để nhận ra tiếng Chúa giữa muôn vàn âm thanh hỗn tạp. Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, Chúa Giê-su luôn hiện diện. Cùng với Thánh Phê-rô, chúng ta hãy cầu nguyện: xin cho con đến với Ngài.
Trình thuật của thánh Mát-thêu làm chúng ta ngỡ ngàng. Các môn đệ hằng ngày gặp gỡ Chúa Giê-su và nghe lời Người giáo huấn. Vậy mà nay, khi Người đến với các ông, các ông lại tưởng là bóng ma. Dường như những nỗi sợ hãi đã làm mờ mắt các ông. Trong ngôn ngữ đời thường, “ma” là một thực tại mơ hồ, là một ảo ảnh người ta thường dùng để nói về sự dữ. Chính trong lúc các ông đang bối rối và lo sợ, Chúa Giê-su trấn an các ông: “Thầy đây, đừng sợ!”. Trong truyền thống Thánh Kinh, câu nói “Thầy đây” là cách Thiên Chúa tỏ mình. Giữa bụi gai cháy bừng, khi ông Môi-sen hỏi Chúa là ai, Ngài đã trả lời: “Ta đây; Ta là Đấng Tự hữu”. Trong Tin Mừng, nhiều lần Chúa Giê-su dùng cách nói này, ví dụ như lời “Ta đây” trong vườn Cây Dầu, khiến quân lính phải ngã lăn. Trong cuộc tranh luận với người Do Thái, Chúa Giê-su khẳng định: “Khi nào các ông treo Con Người lên cao, các ông sẽ biết Tôi là (thường dịch là “Tôi hằng hữu”)” (x. Ga 8,28).
Thiên Chúa luôn hiện diện trong cuộc đời chúng ta. Đó là một trong những điều cốt lõi của đức tin Ki-tô giáo. Chúa Giê-su đã hứa điều ấy trước khi Người từ biệt các môn đệ: “Này đây, Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28), 20. Câu 20 này cũng là câu kết thúc của Tin Mừng thánh Mát-thêu, như một khẳng định chắc chắn về sự hiện diện của Chúa giữa các môn đệ và giữa những ai tin vào Người. Chúa ở với chúng ta để dẫn dắt chúng ta trong hành trình cuộc đời. Giữa những thử thách gian nan và giữa những lo lắng bộn bề của cuộc sống, nhiều khi chúng ta quên sự hiện diện yêu thương của Chúa. Đối với một số người Công giáo, khi an vui bình lặng thì không hề nghĩ đến Chúa, chỉ những lúc khó khăn bế tắc thì mới kêu cầu Ngài. Đức tin như thế là một đức tin vụ lợi, chỉ tin Chúa và kêu cầu Ngài khi có lợi vật chất cho bản thân mình.
“Cho con đến với Ngài!”. Đó là lời xin của thánh Phê-rô. Đó cũng là lời xin của mỗi người chúng ta hôm nay. Đến với Chúa là một lời mời gọi đến từ phía Ngài. Đó cũng là kết quả do sự cộng tác của con người với ơn Chúa. Mặc dù được Chúa cho phép, thánh Phê-rô vẫn sợ hãi và chìm xuống biển. Chúa đã kéo ông lên khỏi nước. Người trách ông là người kém tin. Hôm nay, Chúa đang nói với chúng ta những lời ấy: “Hỡi kẻ kém lòng tin, sao lại hoài nghi?”. Vì kém tin nên chúng ta còn sợ hãi giữa phong ba bão tố của cuộc đời; vì kém tin nên đôi khi chúng ta chạy đến tìm nương tựa nơi loài người hoặc nơi những thần linh khác không phải là Chúa; Vì kém tin nên chúng ta buồn bã và thất vọng khi cầu nguyện mà dường như Chúa không nghe lời. Chúng ta hãy đến với Chúa Giê-su để Người củng cố đức tin non yếu của chúng ta.
Đức tin Ki-tô giáo là hành trình đi tìm Chúa. Cuộc tìm kiếm ấy liên lỉ suốt đời. Thánh Au-gút-ti-nô đã cầu nguyện: “Lạy Chúa, Ngài dựng nên con cho Ngài, và lòng con khắc khoải mãi cho đến khi nghỉ yên trong Ngài” (Tự thú, quyển I). Nơi khác vị thánh này cũng viết: “Tìm kiếm Chúa là gặp được Chúa; và khi đã gặp được Chúa, con lại càng khao khát tìm kiếm Ngài hơn nữa”. Theo thánh Au-gút-ti-nô, đời sống thiêng liêng như một chuyển động liên tục của trái tim hướng về Thiên Chúa. Ngôn sứ Ê-li-a là người đang đi tìm Chúa (Bài đọc I). Sau khi đấu trí với bốn trăm năm mươi tư tế của thần Ba-an, ông chạy trốn trước sự săn đuổi của vua A-kháp và hoàng hậu I-dê-ven . Ông đã đến núi Khô-rếp là núi của Thiên Chúa. Ở đây ông đã gặp được Chúa, không phải trong bão táp cuồng phong hay động đất, mà trong làn gió thổi hiu hiu. Thiên Chúa chỉ tỏ mình khi con người lắng đọng tâm hồn, với tâm tình cầu nguyện và yêu mến chân thành. Như thế, không thể nhân danh Chúa để biện minh cho bạo lực thù hận và ghen ghét. Chúa chỉ ưa thích hiện diện trong những trái tim chân thành đơn sơ, không mưu mô và không gây thù chuốc hận.
Không chỉ đến với Chúa, mà Ki-tô còn có bổn phận giúp người khác đến với Ngài. Thánh Phao-lô trăn trở vì thấy đồng bào của ông là người Do Thái không tin nhận Chúa Giê-su là Đấng Cứu độ. Ông đã nhắc lại những ơn huệ mà Thiên Chúa đã ban cho dân riêng suốt bề dày của lịch sử, và ông nguyện làm mọi sự để dòng dõi ông Áp-ra-ham đến với Chúa Giê-su (Bài đọc II). Vấn đề này vẫn còn đặt ra đối với chúng ta. Hiện nay, không chỉ những người Do Thái, mà cả một phần lớn các dân trên địa cầu chưa nhận biết Chúa. Chúng ta hãy cầu nguyện và nỗ lực cố gắng để giấc mơ của Chúa Giê-su là “chỉ có một đàn chiên và một chủ chiên” được thực hiện. “Lạy Chúa, xin cho con đến với Ngài!”. Amen.
+TGM Giu-se Vũ Văn Thiên
