Là bốn đấng được phúc tử đạo tại Pháp trường Năm Mẫu Hải Dương

Như tên gọi, Các Thánh tử đạo Hải Dương gồm: Đức cha Giêrônimô Liêm (1800–1861), Giám mục Địa phận Đông Đàng Ngoài (1841–1861); Đức cha Valentinô Vinh (1827–1861), Giám mục Địa phận Trung Đàng Ngoài (1858–1861, thuộc địa bàn Giáo phận Bùi Chu và Thái Bình ngày nay); cha Almatô Bình (1831–1861), linh mục, cộng sự viên của Đức cha Valentinô Vinh; và thầy Giuse Nguyễn Duy Khang (1832–1861), thầy giảng, phụ tá Đức cha Giêrônimô Liêm.

Ba vị thừa sai xuất thân từ Tây Ban Nha đã chịu tử đạo vào ngày 01/11/1861; còn thầy Giuse Khang, quê Giáo xứ Trà Vi, Giáo phận Thái Bình, lãnh phúc tử đạo vào ngày 06/12/1861, cũng tại Pháp trường Năm Mẫu Hải Dương. Cả bốn vị được phong chân phước năm 1906 và đều thuộc số 117 Thánh tử đạo Việt Nam được Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II tuyên phong hiển thánh ngày 19/6/1988. Danh tiếng bốn Thánh đã gắn liền với Hải Dương, máu các ngài đã thấm đẫm linh địa này, nên từ rất lâu, các ngài được gọi bằng một tên rất thân thương: Các (Bốn) Thánh tử đạo Hải Dương.

Sau khi bốn vị tử đạo được phong chân phước, với lòng yêu mến các anh hùng đức tin, một nhà nguyện đã được xây dựng năm 1907 và được thay thế bằng một Đền thánh nguy nga năm 1927, ngay trên mảnh đất các ngài đổ máu. Danh tiếng các Thánh gắn liền với ngôi Đền thánh mang tên các ngài: Đền thánh Tử đạo Hải Dương. Kể từ đó, dòng người hành hương tấp nập tuôn về kính viếng, đặc biệt trong dịp lễ truyền thống hằng năm. Cũng nhờ đó mà danh tiếng “Các Thánh tử đạo Hải Dương” được nhiều người gần xa biết đến.

Lòng yêu mến các Thánh tử đạo cùng với công phúc của các ngài đã hòa tấu nên một bản tình ca ngàn trùng mang tên: Các Thánh tử đạo Hải Dương. Bài ca ấy vang vọng khắp Giáo phận Hải Phòng và lan tỏa tới những tâm hồn yêu mến các Thánh tử đạo ở khắp muôn phương.

Tuy nhiên, do những biến động lịch sử và hoàn cảnh chiến tranh, Đền thánh bị tàn phá, cảnh hành hương dần thưa vắng, nên danh tiếng các Thánh tử đạo Hải Dương cũng ít được nhắc đến. Bao thế hệ qua đi, để rồi ngày hôm nay, không ít người còn xa lạ với các ngài. Đó cũng là lý do khi nói đến việc tái thiết Đền thánh Tử đạo Hải Dương, nhiều người đã nêu lên thắc mắc: “Các Thánh tử đạo Hải Dương là ai?”.

Là những thánh sống tinh thần “Hiệp hành Chứng nhân”

Các Thánh tử đạo Hải Dương khác nhau về nguồn gốc, văn hóa, bậc sống và chức vụ. Tuy nhiên, giữa những khác biệt ấy, các ngài lại có chung tâm tình của những người con tổ phụ Đa Minh, đặc biệt cùng chung một lý tưởng: khát khao loan báo Tin Mừng cho tha nhân, bất chấp mọi gian nan thử thách. Chính lý tưởng chung ấy đã thúc bách các ngài can đảm cùng nhau tiến bước trên con đường khổ giá và hiên ngang đổ máu đào làm chứng cho Chúa tại Pháp trường Năm Mẫu Hải Dương. Lối sống và cách làm chứng của các ngài, theo ngôn ngữ ngày nay, có thể được diễn tả bằng con đường: “Hiệp hành Chứng nhân”.

“Hiệp hành Chứng nhân” là nét đặc trưng nơi Bốn Thánh tử đạo Hải Dương. Thật vậy, trên con đường loan báo Tin Mừng, thầy Giuse Nguyễn Duy Khang luôn song hành với Đức cha Giêrônimô Liêm; cha Almatô Bình lại thường nhịp bước với Đức cha Valentinô Vinh. Trong lúc chạy trốn sự truy đuổi của quan quân, nhờ sự quan phòng của Chúa, bốn đấng đã gặp nhau trên sông Hàn (Hải Dương), để trao đổi thông tin và khích lệ nhau kiên trung làm chứng cho Chúa. Đặc biệt, trong cùng một năm (1861), tại cùng một pháp trường, các ngài đã được diễm phúc tử đạo. Các ngài đã cùng nhau tiến bước trên con đường truyền giáo, cùng nhau vượt qua những thử thách và cùng nhau làm chứng cho Chúa bằng chính mạng sống mình.

Tinh thần hiệp hành của các Thánh không chỉ tạo nên sức mạnh cho công cuộc truyền giáo, tiếp thêm lòng can đảm để các ngài vượt qua mọi gian nan, sẵn sàng hy sinh mạng sống vì đức tin, mà còn diễn tả nét đẹp của Giáo hội Chúa Kitô. Quả vậy, khi sai các môn đệ đi rao giảng, Đức Giêsu cũng “sai cứ từng hai người một” (Lc 10,1). Trong lời nguyện trước cuộc Thương Khó, Người còn tha thiết nài xin Chúa Cha cho những ai tin vào Người “để tất cả nên một” (Ga 17,21). Các Thánh tử đạo Hải Dương đã sống tinh thần ấy và trở nên những chứng nhân của sự hiệp hành, khi các ngài cùng nhau tiến bước trên hành trình “Hiệp hành Chứng nhân”.

Ngoài gia sản đức tin kiên trung truyền lại cho con cháu, con đường “Hiệp hành Chứng nhân” còn có thể được xem như một linh đạo mà các ngài để lại cho hậu thế. Hơn bao giờ hết, con đường ấy ngày hôm nay càng trở nên khẩn thiết, khi “Con đường hiệp hành chính là con đường mà Thiên Chúa mong đợi nơi Giáo hội của thiên niên kỷ thứ ba” (Đức Giáo hoàng Phanxicô). Cùng với công cuộc tái thiết Đền thánh, linh đạo của Các Thánh tử đạo Hải Dương đang ngày một lan rộng và được nhiều tín hữu noi theo trên hành trình “Hiệp hành Chứng nhân”.

Là những hoa trái đầu mùa cao quý trong vườn Hội Thánh Việt Nam

“Chúng con hoan hỷ ca tụng các Thánh là những hoa trái đầu mùa cao quý của Hội Thánh Việt Nam” (Kinh Các Thánh tử đạo Việt Nam). Các Thánh tử đạo Hải Dương cũng là những hoa trái đầu mùa cao quý trong vườn Hội Thánh Việt Nam. Những hoa trái ấy mang nét đẹp riêng nơi từng vị thánh, làm nên chân dung đặc sắc của mỗi đấng.

Là một trong ba cột trụ xây dựng Giáo hội Việt Nam

Khi nhìn lại hành trình loan báo Tin Mừng và đỉnh cao là cái chết tử đạo của vị Giám mục Đông Đàng Ngoài, cha Phanxicô Xaviê Đào Trung Hiệu, OP., giáo sư môn Lịch sử Giáo hội, đã khẳng định: “Thánh Hermosilla Liêm là một trong ba vị thừa sai lỗi lạc và can đảm nhất trong lịch sử Giáo Hội Việt Nam, sánh bước với Đức cha Cuénot Thể (1835-1861, Giáo phận Đàng Trong) và Đức cha Retord Liêu (1840-1858, Giáo phận Tây Đàng Ngoài), ba cột trụ chống đỡ giáo hội Việt Nam trong những giai đoạn khó khăn thời bách hại” (Hạnh Bốn Thánh tử đạo Hải Dương). Đây cũng là nhận định được nhiều tác giả chia sẻ khi viết về tiểu sử Đức cha Giêrônimô Liêm trong bối cảnh lịch sử 117 vị Thánh tử đạo Việt Nam.

Trong suốt 33 năm thừa sai và 20 năm giám mục, thánh Giêrônimô Liêm đã hoạt động không ngừng nghỉ trên cánh đồng truyền giáo mênh mông của miền đất Đông Đàng Ngoài. Sự nhiệt thành của ngài khiến quan quân phải vất vả lùng bắt, đến nỗi nhà vua phải treo thưởng rất lớn cho ai bắt được “trùm Vọng”.

Khi làm giám mục, dù trong cảnh cấm cách, ngài vẫn tìm mọi cách để Địa phận không ngừng phát triển. Các trường La-tinh, thần học được mở ở Nam Am, Mỹ Động, Hải Dương. Số tín hữu ngày một gia tăng, trong đó có những tân tòng là chánh tổng, phó tổng, lý trưởng, thầy cúng… như ở Đông Xuyên. Những điều ấy đã minh chứng cho sự phát triển của đời sống đức tin giữa thời kỳ bách hại. Đặc biệt, vị mục tử như cột trụ của Giáo phận luôn ưu tư chăm lo việc đào tạo linh mục và thầy giảng, để dù nhiều người theo đạo bị giết hại, Hội Thánh của Chúa vẫn không ngừng lớn mạnh.

Chân dung của vị “mục tử cột trụ” phần nào cũng được phác họa trong chính bức tranh 117 vị Thánh tử đạo Việt Nam. Thánh Giêrônimô Liêm là người đứng hàng đầu, với dáng to cao, mặc tu phục giám mục. Ngài cũng là vị thừa sai đầu tiên được xướng tên, sau tên ba vị thánh người Việt Nam, trong nghi thức phong thánh cho các vị tử đạo Việt Nam tại Roma, ngày 19 tháng 6 năm 1988.

Là “Giám mục hầm trú” với “gậy tre, mũ giấy”

Đó là hình ảnh đặc biệt của Đức cha Valentinô Berrio Ochoa Vinh, Giám mục Địa phận Trung Đàng Ngoài. Ngài đến Việt Nam vào thời điểm đạo bị cấm cách gắt gao, và việc lãnh nhận chức giám mục cũng diễn ra trong một bối cảnh vô cùng ngặt nghèo.

Thánh lễ truyền chức giám mục không thể chuẩn bị đầy đủ, phải dùng những vật dụng tự chế: gậy là một thanh nứa, mũ được gấp từ mảnh giấy bìa cứng. Nghi lễ được cử hành vội vàng trong đêm tại nhà ông trùm Chi, thuộc Giáo xứ Ninh Cường (Giáo phận Bùi Chu), vào ngày 26/6/1858.

Trong ba năm làm giám mục (1858–1861), Đức cha Valentinô Vinh hầu như sống trong hầm trú tại Giáo họ Hương La (Giáo phận Bắc Ninh). Thỉnh thoảng, ngài ra ngoài để giúp các tín hữu hoặc phải chạy trốn sang những hầm trú khác. Dù ở trong hầm, ngài vẫn tìm mọi cách để điều hành giáo phận qua những người trung gian hoặc qua các thư luân lưu. Giữa môi trường chật chội, thiếu thốn, ngài vẫn quan tâm huấn luyện những người ở cùng để họ trở nên những tông đồ truyền giáo.

Suốt ba năm giám mục ròng rã trong cảnh hầm trú, phải chịu biết bao khổ cực, nhưng ngài vẫn luôn thể hiện một tâm hồn vui tươi và lạc quan. Lời nói rất thi vị của thánh nhân trước khi lên đường truyền giáo tại Việt Nam: “Tôi đi để quê hương tôi có người làm thánh”, đã được thể hiện trọn vẹn trong cuộc đời của ngài, cách riêng nơi cái chết hiên ngang tại Pháp trường Năm Mẫu Hải Dương.

Là nhà thừa sai can trường

Nếu có gì nổi bật để nói về thánh Almatô Bình thì đó chính là sự can trường giữa những thử thách gian nan. Cũng giống như thánh Valentinô Vinh, nhà thừa sai Almatô Bình đến miền Đàng Ngoài vào đúng thời kỳ các đạo trưởng bị truy lùng gắt gao.

Với tuổi trẻ nhiệt huyết và lòng khao khát cháy bỏng loan báo Tin Mừng, dù sức khỏe bị hạn chế, cha Almatô Bình vẫn hết mình phục vụ đoàn chiên được trao phó, chăm lo cho người nghèo và nhiệt thành ra đi thăm viếng, giúp đỡ những người ngoài Công giáo.

Trong bất cứ hoàn cảnh nào, dù phải chạy trốn nay đây mai đó hay sống trong cảnh hầm trú chật chội với bao thiếu thốn, cha Almatô Bình vẫn luôn thể hiện một tâm hồn an vui và lạc quan. Trong một bức thư gửi về cho gia đình, ngài viết: “con và một linh mục nữa đã ẩn mình bảy tám tháng nay trong một nhà có sẵn hang ở dưới lòng đất để núp khi quan quân vây bắt, nhưng nay mai nếu cha mẹ có nghe tin con bị bắt thì xin cha mẹ đừng khóc, mà hãy vui mừng tạ ơn Chúa vì con được phúc trọng dường ấy” (Hạnh Bốn Thánh tử đạo Hải Dương – Lm. Phanxicô Xaviê Đào Trung Hiệu, OP.).

Sự lạc quan ấy đã tiếp thêm nghị lực để cha Almatô Bình vượt lên trên bao gian nan, can trường hy sinh mạng sống mình làm chứng cho Tin Mừng.

Là người sống trọn đạo hiếu trung

Nét son nơi thánh Giuse Nguyễn Duy Khang chính là lòng hiếu trung, một nhân đức được người Việt luôn ca tụng: “Trai thời lấy hiếu làm đầu” (Nguyễn Đình Chiểu), và cũng là điều cốt lõi trong đạo Chúa: “Thứ Tư thảo kính cha mẹ” (Mười Điều Răn).

Suốt 29 năm cuộc đời, thánh nhân luôn trung thành phụng sự Chúa và hiếu trung với bề trên. Với lòng yêu mến Chúa nồng cháy, từ khi làm cậu giúp lễ cho đến khi làm thầy giảng, ngài luôn sống đạo đức, siêng năng cầu nguyện. Với lòng yêu mến Giáo hội, ngài luôn nhiệt thành chu toàn các công việc bề trên giao phó.

Đức cha Giêrônimô Liêm đã từng nhận định: “Tôi chưa thấy một người nào làm việc tận tình siêng năng chu đáo như thầy Khang. Chắc chắn thầy phải có tinh thần hy sinh chịu khó cao độ mới làm được như thế” (Hạnh Tích Các Thánh – Lm. Giuse Phạm Đức Tuấn).

Nét đẹp của lòng hiếu trung ấy được biểu lộ cách đặc biệt khi Đức cha phải giải tán chủng viện Kẻ Mốt vì tình trạng bách hại khốc liệt. Các thầy ai về nhà nấy, riêng thầy Khang cứ nhất quyết theo Đức cha: “Dù Đức cha đi đâu, cực khổ thế nào con cũng nguyện suốt đời phục vụ Đức cha. Nếu Đức cha được chết vì Chúa, con cũng xin chết theo” (Sđd).

Trong một cảnh huống khác, khi quan quân đến vây bắt Đức cha tại thuyền ông trương Bính, thầy Khang đã hiên ngang mang sào ra ngăn cản và tuyên bố: “Nếu muốn bắt Đức cha, hãy bước qua xác tôi trước” (Sđd). Khi bị bắt, Đức cha đã xin quan quân cho những người khác được tự do. Nhưng thầy Khang cứ nằng nặc xin được bắt để theo Đức cha cho đến cùng. Thầy đã tự giơ tay để quan quân trói và giải đi cùng với Đức cha.

Trong lúc loạn lạc, ai cũng muốn tìm chốn an toàn, còn thầy Khang lại sẵn sàng bước vào con đường đầy hiểm nguy. Lòng hiếu trung ấy đã giúp thầy trung thành đến cùng với Chúa và với Giáo hội, dù phải chịu biết bao trận đòn roi đến như tan xương nát thịt. Phần thưởng cho lòng hiếu trung ấy là phúc tử đạo vào ngày 06/12/1861, ngay tại pháp trường mà người thầy đáng kính của mình, hơn một tháng trước, đã đổ máu làm chứng cho Chúa.

Hoa trái Các Thánh tử đạo nơi linh địa Hải Dương

Hoa trái của Các Thánh tử đạo Hải Dương đã góp phần tô thắm trang sử đức tin hào hùng trên giang sơn đất Việt, cách riêng nơi linh địa Hải Dương. Những giọt máu đào của các ngài đổ xuống trên mảnh đất Năm Mẫu, như những hạt giống đức tin, đã làm nảy sinh bao thế hệ Kitô hữu nơi Giáo phận Đông Đàng Ngoài xưa, trong đó có Giáo phận Hải Phòng ngày nay.

Gương sáng chứng nhân của các ngài như những ngọn hải đăng soi đường dẫn lối cho bao người đến với Chúa và bước đi trên hành trình vượt biển trần gian, tiến về bến bờ Thiên quốc. Ngọn lửa đức tin của các Thánh tử đạo vẫn không ngừng tiếp sức thiêng cho đoàn con cháu, nơi những tâm hồn thành tâm tiếp bước các ngài trên hành trình theo Đức Kitô: “dòng máu đức tin của các ngài đang chảy trong trái tim mỗi người chúng con” (Kinh Các Thánh tử đạo Hải Dương).

Hoa trái đầu mùa của Các Thánh tử đạo Hải Dương đã có một thời bị mờ nhạt, che khuất bởi cảnh hiu quạnh sau những làn sóng di cư lịch sử và cảnh hoang tàn khi Đền thánh bị bom đạn chiến tranh tàn phá. Công cuộc tái thiết Đền thánh Tử đạo Hải Dương đang góp phần khơi dậy gia sản đức tin của tổ tiên và làm sáng lên chân dung các Thánh tử đạo nơi linh địa Hải Dương.

Đoàn người hành hương đang ngày một tấp nập tiến về Đền thánh. Tinh thần “Hiệp hành Chứng nhân” của các anh hùng tử đạo nơi đây cũng đang ngày một lan rộng, khi ngày càng có thêm nhiều người biết đến và yêu mến các Thánh tử đạo Hải Dương.

Những điều ấy đã và đang góp phần giải đáp thắc mắc: ‘Các Thánh tử đạo Hải Dương là ai?’. Nhưng câu trả lời sẽ thực sự sống động và ý nghĩa hơn khi con đường ‘Hiệp hành Chứng nhân’ được tiếp nối nơi dòng dõi các ngài giữa dòng đời hôm nay.

Linh mục Giuse Nguyễn Văn Vang