Linh Mục Việt Nam tiên khởi: Những “Hạt Gạo Trên Sàng”

Thứ ba - 09/07/2024 08:27      Số lượt xem: 267

Dành để tưởng niệm các linh mục tiên khởi thuộc Đàng Trong và Đàng Ngoài thế kỷ 17.

screenshot 1720488235
Dẫn nhập: Những công cụ cần thiết của chương trình cứu độ
 
I. HÀNG GIÁO SĨ ĐỊA PHƯƠNG TRONG TIẾN TRÌNH “HOÁN CẢI TRUYỀN GIÁO”
 
1. Khi “Kitô giáo bị biến mất”
 
2. Những chặng đường “hoán cải truyền giáo”
 
II. HÀNG “GIÁO SĨ VIỆT NAM”: THỜI CHUẨN BỊ CỦA DÒNG TÊN
 
1. Dòng Tên: Những “Người thợ vườn nho giờ thứ nhất”
 
2. Hội Thầy Giảng: những viên đá lót đường
 
III. HIỆN TÌNH “HÀNG GIÁO SĨ BẢN XỨ” VÀO THỜI “GIÁO PHẬN TÔNG TÒA”
 
1. Định hướng chiến lược về giáo sĩ của Huấn thị 1659
 
2. Hội truyền giáo hải ngoại Paris và chủng viện đào tạo thừa sai hải ngoại
 
3. Những áp dụng thực hành “đi cùng năm tháng” của chỉ thị MONITA
 
IV. THẾ HỆ GIÁO SĨ VIỆT NAM TIÊN KHỞI: NHỮNG “HẠT GẠO TRÊN SÀNG”
 
1. Những linh mục dưới thời Đức cha Lambert de la Motte
 
2. Linh mục tiên khởi Việt Nam “nạn nhân của những hệ lụy tiêu cực”
 
3. Những linh mục xuất chúng: Giuse Trang, Lữ Y Đoan
 

Kết: Một nén hương lòng tri ân cảm tạ!
 

Dẫn nhập: Những công cụ cần thiết của chương trình cứu độ

Nếu lấy cột mốc từ buổi chiều Chúa Giêsu ăn bữa Tiệc Ly[1] với các môn đệ trước Lễ Vượt Qua của người Do Thái vào tháng 4 năm 33 của thế kỷ thứ nhất, thì có thể nói được, chức linh mục trong Kitô giáo đã tồn tại được 1991 năm (cho tới năm 2024 này)! Còn tồn tại đến bao lâu thì chúng ta phải dựa vào thế giá của Thánh Kinh cũng như cảm thức đức tin truyền thống của Dân Chúa! Thật vậy, Lời Chúa đã nói với chúng ta rằng: chức linh mục, còn được gọi là “Thượng tế”, sẽ tồn tại muôn đời như lời tuyên xưng của Thánh vịnh 110: “Con là Thượng tế đến muôn đời theo phẩm hàm Menkisêđê” (Tv 110,4).

Cho dù đây không là lúc để giải trình hay luận bàn chuyện “thần học về chức linh mục”, nhưng cũng cần nhắc lại chính lời nhận xét của thánh linh mục Gioan Maria Vianney để phần nào chúng ta có một cái nhìn tổng thể về giá trị và vai trò của các linh mục trong nhịp sống đức tin của Dân Chúa nói riêng hay trong công cuộc cứu độ con người nói chung: “… Nếu không có bí tích truyền chức thánh, chúng ta sẽ không có Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể. Ai đã đặt Người ở đó, trong nhà Tạm? Linh mục. Ai đã đón nhận linh hồn các con bước vào cuộc sống? Linh mục. Ai đã nuôi dưỡng linh hồn để nó có sức thực hiện cuộc lữ hành? Linh mục. Ai đã chuẩn bị cho nó ra trước mặt Chúa khi rửa sạch nó lần cuối cùng trong Máu Chúa Kitô? Linh mục, luôn luôn là linh mục. Và nếu linh hồn ấy chết trong tội trọng, ai sẽ phục sinh nó? Ai sẽ trả lại cho nó sự yên hàn và bình an? Vẫn là linh mục. Các con không thể nhớ lại chỉ một ơn nào của Thiên Chúa mà các con không gặp thấy bên cạnh đó hình ảnh của linh mục”.

Chắc chắn đây không là “cảm nhận ngẫu hứng” của một vị thánh về chính “hồng ân linh mục” của mình; vì hơn một trăm năm sau, Huấn Quyền của Giáo hội cũng khẳng định về linh mục như thế qua Tông huấn Pastores Dabo Vobis của Đức thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II: “Trong Giáo hội và cho Giáo hội, như những dấu chỉ bí tích, các linh mục đại diện cho Chúa Giêsu Kitô là Đầu và Mục Tử, các linh mục công bố Lời Chúa một cách chính danh, các linh mục lặp lại những cử chỉ tha thứ và ban ơn cứu độ, nhất là qua các bí tích Rửa Tội, Thống Hối và Thánh Thể, các linh mục đem sự chăm sóc đầy tình thương của Ngài, sự chăm sóc đến nỗi trao hiến trọn vẹn chính mình của Ngài, ra thi thố cho đoàn chiên mà các linh mục qui tụ lại làm một và dẫn đến Chúa Cha nhờ Chúa Kitô trong Chúa Thánh Thần”[2].

Cách riêng, trong sứ vụ loan báo Tin mừng cho muôn dân, có thể nói được, ngay từ khi bắt đầu cuộc sống công khai rao giảng, Đức Kitô đã tiên liệu ngay chương trình “chọn gọi, đào tạo và huấn luyện” một số người để cùng với Ngài và thay mặt Ngài, rao giảng Phúc âm cho thế giới: “Chúa Giêsu leo lên núi, Ngài gọi những kẻ Ngài muốn đến với Ngài. Họ đã đến với Ngài. Và Ngài đã thiết lập Nhóm Mười Hai để họ ở với Ngài và để sai họ đi rao giảng, kèm theo quyền xua trừ ma quỉ” (Mc 3,13-15). Đức thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã khẳng định việc Giáo hội không ngừng áp dụng “định hướng” này trong suốt cuộc lữ hành của mình: “Có thể quả quyết rằng trong suốt dòng lịch sử của mình, khi nhặt khi khoan, cách này hoặc cách khác, Giáo hội đã áp dụng trang Tin mừng này vào cuộc sống bằng công trình đào tạo các ứng sinh cho hàng linh mục và ngay cả đào tạo chính các linh mục”[3].

Công cuộc truyền giáo tại Việt Nam chúng ta cũng không đi ngoài “quy luật của muôn đời” đó. Thật vậy, nếu lấy cột mốc ngày 18.01.1615[4], ngày mà phái đoàn thừa sai Dòng Tên lần đầu tiên cập bến Cửa Hàn – Đàng Trong để bắt đầu công cuộc truyền giáo tại Việt Nam, thì trong số ba vị tu sĩ của đoàn thừa sai Dòng Tên đầu tiên đó, đã có hai vị là linh mục: cha Francesco Buzomi, người Ý làm trưởng đoàn, cha Diogo Carvalho cùng với tu huynh Antonio Dias[5]. Kể từ thời điểm “vạn sự khởi đầu nan” đó (1615) cho đến gần bốn mươi năm sau (1664), khi có các linh mục thuộc Hội thừa sai Paris đặt chân đến Việt Nam[6], chỉ riêng Dòng Tên đã cung cấp cho công cuộc truyền giáo tại Đàng Trong 38 thừa sai mang quốc tịch của 10 quốc gia[7], hầu hết là các linh mục; trong đó có những linh mục tài ba xuất chúng, đã góp phần rất lớn, không những cho công cuộc loan báo Tin mừng mà còn cho việc xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam. Xin đan cử 4 linh mục tiêu biểu sau:

- Cristoforo Borri (1583 - 1632): Người Ý, một nhà Dân tộc học, thiên văn học, hoạt động truyền giáo tại Đàng Trong từ năm 1618-1622, là tác giả của tác phẩm “Xứ Đàng Trong” (Nguyên tác: Relazione della nuova missinone dei P.P. della Compagnia di Gesù, Roma 1631. Thanh Thư dịch, Nxb Tổng hợp Thanh phố Hồ Chí Minh 2019), một ký sự nghiên cứu đầy giá trị toàn cảnh vùng Đàng Trong về lịch sử, địa lý, văn hóa, chính trị, quân sự, thương mại…, được xuất bản khoảng 16 lần (từ 1631-1931), và ngoài bản văn bằng tiếng Ý, đã được dịch ra 5 thứ tiếng Latinh, Pháp, Hà Lan (Plemish), Đức, Anh[8]

- Francisco de Pina (1585 (1586?) - 1625): Người Bồ Đào Nha, hoạt động truyền giáo tại Đàng Trong khoảng từ năm 1617 và chết đuối ở Đà Nẵng ngày 16.12.1625. Rất giỏi tiếng Việt và là thầy dạy chữ Quốc ngữ cho cha Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ), là một trong số những linh mục Dòng Tên có công xây nền móng cho hệ thống chữ Quốc ngữ; từ năm 1618, tại cư sở Nước Mặn (Qui Nhơn), cùng với các cộng sự viên địa phương, đã dịch các kinh căn bản của Công Giáo như Lạy Cha, Kính mừng, Tin Kinh… sang tiếng Việt[9].

- Gironimo Majorica (1591 - 1656): Người Ý, hoạt động truyền giáo tại Đàng Trong từ năm 1624 - 1629 và tại Đàng Ngoài từ năm 1632 - 1656. Ngài là chuyên viên Hán Nôm và là tác giả 48 tác phẩm bằng chữ Nôm cả văn xuôi lẫn văn vần, trong số đó vẫn tồn tại 30 tác phẩm cho tới hôm nay[10].

- Alexandre de Rhodes (1593 - 1666): Là công dân Avignon lãnh địa của Giáo hoàng (1348 - 1791)[11]. Ngài hoạt động tại Đàng Trong hai lần: Lần đầu từ năm 1624 - 1626; lần hai từ năm 1640 - 1645; tại Đàng ngoài từ năm 1627 - 1630. Ngài có công lớn nhất trong việc hình thành và kiện toàn chữ Quốc ngữ khi đích thân biên soạn và xuất bản hai tác phẩm Quốc ngữ (được xem như) đầu tiên: Tự điển “Việt-Bồ-La” và cuốn giáo lý “Phép giảng tám ngày”. Cả hai cuốn được in tại nhà in đa ngữ của Thánh Bộ Truyền bá Đức tin tại Rôma năm 1651[12].

Sở dĩ nhắc lại vài “điểm nhấn lịch sử” liên quan đến các linh mục thừa sai ban đầu để chúng ta dễ có cái nhìn tổng quát hơn, chính xác hơn về “thế hệ linh mục” tiên khởi của Giáo hội tại Việt Nam. Các ngài chắc chắn phải là “những hạt gạo trên sàng”, những ứng viên xuất sắc được đào tạo từ “lò huấn luyện Thầy giảng” của Dòng Tên, với những định hướng nền tảng của Hội thánh lúc bấy giờ như “Huấn thị 1659”, Kim chỉ nam “Monita” cùng với sự bổ túc cần thiết và kinh nghiệm của các linh mục Hội Thừa Sai Paris…

Đó chính là nội dung khái quát mà bài viết sau đây muốn gợi ý để chúng ta cùng suy tư và cảm nhận. Nội dung được khai triển với bốn “điểm nhấn” sau:

- Hàng giáo sĩ địa phương trong tiến trình “Hoán cải truyền giáo”.

- Hàng giáo sĩ Việt Nam thời chuẩn bị của Dòng Tên.

- Hiện tình “hàng giáo sĩ bản xứ” vào thời “Giáo phận Tông tòa”.

- Thế hệ linh mục Việt Nam tiên khởi: “Những hạt gạo trên sàng”.

I. HÀNG GIÁO SĨ ĐỊA PHƯƠNG TRONG TIẾN TRÌNH “HOÁN CẢI TRUYỀN GIÁO”

Để có một cái nhìn tương đối quân bình và chính xác về “hiện tình giáo sĩ” trong buổi đầu truyền giáo tại Việt Nam, có lẽ chúng ta cũng cần dừng lại vài “điểm nhấn lịch sử” liên quan đến những “thăng trầm”, những lý do hay tác động tiêu cực và những nỗ lực “hoán cải truyền giáo” trong công cuộc loan báo Tin mừng của Giáo hội, đặc biệt, trong công cuộc truyền giáo tại Á Châu từ ban đầu và cho đến những thế kỷ gần đây.

1. Khi “Kitô giáo bị biến mất”

1.1. Kitô giáo và “cội nguồn Á Châu”

Có một điều không ai phủ nhận: Kitô giáo phát xuất từ Á Châu như khẳng định từ những lời đầu tiên của Tông huấn “Giáo hội tại Á Châu”: “Giáo hội tại Á Châu hát lời ngợi khen "Thiên Chúa cứu độ" (Tv 68,20) vì Người đã chọn khởi sự kế hoạch cứu độ của Người tại phần đất Á Châu, qua những người nam nữ của lục địa này. Quả thế, chính tại Á Châu mà Thiên Chúa đã mạc khải và hoàn thành ý định cứu độ của Người ngay từ đầu. Người hướng dẫn các tổ phụ (x. St 12) và kêu gọi ông Môisen giải thoát dân Người (x. Xh 3,10). Người nói với Dân được tuyển chọn qua nhiều ngôn sứ, quan án, vua chúa và những phụ nữ dũng cảm đầy lòng tin. Vào "thời viên mãn" (Gl 4,4), Người sai Con Một của Người, Đức Giêsu Kitô Đấng Cứu Độ, mặc lấy xác phàm làm người Á Châu!”[13].

1.2. Những nỗ lực truyền giáo tại Á Châu và những thăng trầm

Ngày từ trên mảnh đất Á Châu, Đức Kitô đã “phát lệnh truyền giáo”; và các môn sinh của Ngài đã tức tốc thi hành. Tông huấn Giáo hội tại Á Châu đã tóm tắt những nỗ lực thực hiện lệnh truyền loan báo Tin mừng của các Tông đồ và các thế hệ Kitô hữu kế tục trải qua hơn một thiên niên kỷ: “Lịch sử Giáo hội tại Á Châu cũng xưa như chính Giáo hội, bởi vì tại Á Châu Đức Giêsu đã thở hơi Chúa Thánh Thần trên các môn đệ của Người và sai họ đi tới tận cùng trái đất để rao giảng Tin mừng và qui tụ những cộng đoàn tín hữu. "Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con" (Ga 20,21; x. Mt 28,18-20; Mc 16,15-18; Lc 24,47; Cv 1,8). Theo mệnh của Chúa, các Tông đồ rao giảng Lời Chúa và thiết lập những Giáo hội. Có lẽ là điều hữu ích khi nhắc lại một vài yếu tố của lịch sử hấp dẫn và phức tạp này.

Từ Giêrusalem, Giáo hội lan rộng tới Antiôkia, tới Roma và xa hơn nữa. Giáo hội đi tới Ethiôpia phía nam, tới Scythia phía bắc và tới Ấn Độ phía đông, vùng đất theo truyền thống, Thánh Tôma Tông đồ đã tới năm 52 sau Công nguyên, và thiết lập các Giáo hội miền nam Ấn Độ. Tinh thần truyền giáo của cộng đoàn Đông-Syria trong thế kỷ III và IV với trung tâm là Edessa, thật đáng kể. Những cộng đoàn khổ tu Syria là một sức mạnh chủ yếu của việc Phúc Âm hoá tại Á Châu từ thế kỷ III đổ về sau. Những cộng đoàn này đem lại sinh lực thiêng liêng cho Giáo hội, đặc biệt trong thời kỳ bắt đạo. Vào cuối thế kỷ III, Armênia là quốc gia đầu tiên toàn diện theo Kitô giáo, và nay đang chuẩn bị mừng kỷ niệm 1.700 năm lãnh nhận bí tích Thánh tẩy. Cuối thế kỷ thứ V, sứ điệp Kitô giáo lan tới các vương quốc Ả rập, nhưng vì nhiều lý do, kể cả những chia rẽ nội bộ người Kitô hữu, sứ điệp không đâm rễ sâu giữa lòng các dân tộc này.

Các thương gia Ba Tư mang Tin mừng tới Trung Hoa trong thế kỷ thứ V. Giáo hội Kitô đầu tiên được thiết lập ở đây vào đầu thế kỷ VII. Dưới triều đại nhà Tần (618-907 Công nguyên) Giáo hội phồn thịnh gần hai thế kỷ. Sự suy sụp của Giáo hội đầy sức sống này tại Trung Hoa, ở cuối ngàn năm thứ nhất, là một trong các chương đáng buồn hơn cả của lịch sử Dân Chúa tại Lục địa.

Thế kỷ thứ XIII, Tin mừng được rao giảng cho người Mông Cổ và người Thổ, và một lần nữa cho người Trung Hoa. Nhưng Kitô Giáo hầu như biến khỏi các vùng này vì một số lý do, trong các lý do đó có sự nổi dậy của Hồi giáo, sự tách biệt về mặt địa lý, thiếu sự thích nghi thích hợp với những văn hoá địa phương, và có lẽ hơn hết là thiếu chuẩn bị gặp gỡ các tôn giáo lớn tại Á Châu. Cuối thế kỷ XIV chứng kiến sự sa sút mãnh liệt của Giáo hội tại Á Châu, trừ ra một cộng đồng biệt lập ở Nam Ấn Độ. Giáo hội tại Á Châu phải chờ đợi một thời đại mới của nỗ lực truyền giáo” (EA số 9).

1.3. Tại sao “Kitô giáo bị biến mất”: Tâm thức “chinh phục”  “coi thường giáo sĩ bản xứ”

Theo Tông huấn “Giáo hội tại Á Châu” thì sở dĩ công cuộc truyền giảng Tin mừng tại Á Châu xem ra thất bại vì những lý do sau: “Nhưng Kitô Giáo hầu như biến khỏi các vùng này vì một số lý do, trong các lý do đó có sự nổi dậy của Hồi giáo, sự tách biệt về mặt địa lý, thiếu sự thích nghi thích hợp với những văn hoá địa phương, và có lẽ hơn hết là thiếu chuẩn bị gặp gỡ các tôn giáo lớn tại Á Châu” (EA số 9).

Ngoài lý do “Hồi giáo”  “địa lý cách trở”, có lẽ hai lý do mang chiều kích “hội nhập văn hóa” và “đối thoại liên tôn”: “thiếu sự thích nghi thích hợp”  “thiếu chuẩn bị gặp gỡ” chính là hai nguyên do chính khiến công cuộc truyền giáo có một thời tạm gọi là “thất bại” tại Á Châu hay theo ngôn ngữ của Ecclesia in Asia “Kitô Giáo hầu như biến khỏi các vùng này”.

Tuy nhiên, theo sự phân tích và đánh giá của tác giả kinh sĩ Léon Joly trong tác phẩm Le Christianisme et l’Extrême-Orient (Kitô giáo và Viễn Đông) thì đằng sau lý do “Hội nhập văn hóa” và “đối thoại liên tôn” đó chính là vì các nhà truyền giáo sau này tại Á Châu đã không đi theo đúng hướng của các Tông đồ trong công cuộc truyền giáo thuở ban đầu[14]. Cụ thể đó là: mang tâm thức “Âu Châu đi chinh phục”  “xem thường giáo sĩ bản xứ”: “Có một thực tế được mọi người công nhận là bất cứ nơi nào lời rao giảng của họ được chấp nhận, các Tông đồ liền thiết lập những Hội thánh hoàn chỉnh với hàng tư tế của các Hội thánh ấy… Ở Viễn Đông từ thế kỷ 13 cho đến nay, các người truyền giáo luôn tiến hành theo cách khác. Không ở đâu và chưa bao giờ, họ đã lập nên một Giáo hội bản xứ hoàn chỉnh. Hầu như ở khắp nơi, theo thời gian, và đặc biệt là kể từ khi lập Hội Thừa sai Hải ngoại, với nhiều nghi ngại, họ đã rụt rè mở ra các chức tư tế cho người bản xứ…”[15].

2. Những chặng đường “hoán cải truyền giáo”

“Hoán cải” luôn là thái độ đức tin căn bản chi phối mọi hành động cá nhân cũng như cộng đoàn mang căn cước Kitô. Chắc chắn, khi nhận ra những “chỉ dấu thất bại” trong công cuộc truyền giáo, đặc biệt tại vùng đất Á Châu, Giáo hội buộc phải nhìn lại cung cách loan báo Tin mừng hay có thể nói cách cụ thể: Giáo hội phải “hoán cải truyền giáo”[16]. Và sau đây là một vài sự kiện cụ thể trong cuộc “hoán cải truyền giáo” của Giáo hội mà ít nhiều có liên quan đến hàng giáo sĩ.

2.1. Cuộc thức tỉnh của Công đồng Trento: Chủng viện và việc đào tạo linh mục

Có thể nói được, cuộc “hoán cải truyền giáo” ấn tượng và quan trọng nhất của Giáo hội vào thế kỷ 16 chính là “quyết sách mục vụ” đầy thức thời của Công đồng Trentô[17]. Nhà sử học Công giáo Việt Nam của Dòng Tên, cố linh mục Đỗ Quang Chính nhận xét: “Chúng ta đã biết Công đồng Trentô (1545-1563) có mấy điểm quan trọng trong nhiều điểm quan trọng khác, đó là: cải tổ sâu xa nội bộ Giáo hội, bảo vệ Giáo hội, cụ thể là ở châu Âu, khỏi bị cuốn theo Tin Lành, và mở rộng Giáo hội sang các dân tộc ngoài châu Âu, tức là công việc truyền giáo tại các châu Á, Phi, Mỹ…”[18].

Thế nhưng, để thực hiện chương trình “hoán cải truyền giáo” này, lựa chọn ưu tiên của Công đồng và cũng là một quyết sách mục vụ mang tính tiên tri đó là đào tạo hàng giáo sĩ, thiết lập các chủng viện. Thật vậy, chúng ta phải cảm ơn các quyết sách mục vụ đầy tính “tiên tri” của Công đồng Trento[19] liên quan đến chức linh mục. Bởi chính từ Công đồng này mà việc huấn luyện, đào tạo các ứng sinh lên chức linh mục được thực hiện trên những nền tảng chuẩn xác mà cụ thể đó là qua hệ thống “chủng viện” (séminaire) được chính Giáo hội thiết lập[20]. Có thể nói được, hầu hết các linh mục thừa sai đến Việt Nam thời đầu (thế kỷ 17), cho dù thuộc các Hội dòng, đều là những thế hệ linh mục “hậu Công đồng Trentô” nên đều mang tinh thần và phong cách mục vụ của Công đồng này. Phải chăng, đây chính là điều kiện thuận lợi và nền tảng cần thiết cho công cuộc đào tạo hàng giáo sĩ Việt Nam khi Giáo hội chính thức thiết lập hai Giáo phận Đại diện Tông tòa đầu tiên tại Việt Nam.

2.2. Đóng lại chế độ “Bảo trợ truyền giáo” và mở ra Thánh Bộ “Truyền bá đức tin”

Cho dù được Công đồng Trento định hướng đúng đắn, nhưng để Giáo Hội có một kế hoạch khả thi và dứt khoát áp dụng những đường hướng loan báo Tin mừng mới mẻ và thích hợp thì không dễ chút nào. Chính cái định chế “Bảo trợ truyền giáo”[21] dành ưu tiên cho hai ông “đại gia” đế quốc Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha đã như một cái “gọng kìm” làm cho “cái đầu của Nhiệm Thể”, cái trung tâm lãnh đạo của Giáo hội là Tòa thánh Rôma phần nào bị “bó chân bó tay”. Không chỉ “bất lợi” về mặt “cơ chế điều hành”, chính chế độ “Bảo trợ truyền giáo” đã mang theo bao “hệ lụy” tiêu cực mà điều tệ hại nhất chính là tinh thần thế tục. Vâng, tính thế tục đã nảy sinh, như những “cây cỏ lùng” tai hại (Mt 13,24-26), nơi hai đế quốc Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha[22] cũng như nơi các giáo sĩ và tu sĩ đang dấn thân trên các cánh đồng truyền giáo. Đây là điều được phản ảnh cách trung thực và rõ nét qua chính ký sự của Đức cha Lambert de La Motte viết năm 1662 khi đặt chân đến thành phố Masulpatan thuộc Ấn Độ: “…Nếu được phép nói ra tất cả những gì mà mọi người ở xứ nầy đều đã biết về tình hình tôn giáo ở Goa và các lãnh thổ thuộc quyền người Bồ Đào Nha, người ta sẽ thấy rằng hàng giáo sĩ phần đông không ăn học và không có hạnh kiểm tốt, và các tu sĩ không còn giữ hiến pháp của họ, những thói tục không tốt đã du nhập vào cộng đoàn làm cho họ không còn biết vâng lời các bề trên...”[23].

Chúa Thánh Thần là Đấng hướng dẫn Hội thánh, nhất là thường xuyên hướng dẫn Hội thánh hoán cải để luôn “trở lại với con đường của Đức Kitô”. Ở đây, chúng ta đang nói đến cuộc “hoán cải truyền giáo” mang tính “chiến lược” trong “định hướng”, trong thực hành cũng như trong công tác nhân sự (mà theo ngôn ngữ của Đức đương kim Giáo hoàng Phanxicô đó là “Hoán cải mục vụ”[24]). Nỗ lực đầu tiên để hiện thực hóa chương trình “hoán cải mục vụ và truyền giáo” này đó là việc Tòa Thánh thiết lập một cơ quan đầu não, điều hành toàn bộ công cuộc loan báo Tin mừng, mà không phải lệ thuộc bởi một thế lực trần tục nào. Và như thế, Thánh Bộ Truyền bá Đức Tin[25] được chính thức thiết lập ngày 22.06.1622 do Đức Grêgôriô XV bằng Hiến chế Inscrutabili Divinae Providentiae.

Linh mục Đỗ Quang Chính nhận xét về sự kiện “cách mạng” nầy như sau: “Đứng trước hoàn cảnh này, Tòa thánh phải tìm cách thoát ra khỏi cơ chế bảo trợ trong các vùng truyền giáo, phải đứng ra lãnh trách nhiệm trực tiếp và toàn bộ trong việc tổ chức và phái các thừa sai đến những xứ trên, mà không còn phải lệ thuộc vào quyền lực chính trị các đế quốc nữa. Như vậy mới tránh được nhiều tiêu cực trong công cuộc truyền giảng Tin mừng. Vì thế, dù quá hiểu cơ chế mới này trực tiếp đụng đến cách sắp xếp và điều hành quen thuộc của chế độ bảo trợ, nhất là của Bồ Đào Nha, làm vua mất nhiều ảnh hưởng, Tòa thánh cũng phải vượt mọi ngãng trở để lập ra Thánh Bộ Truyền giáo”[26].

Riêng linh mục Giáo sư tiến sĩ Joseph Metzler đã lược tóm “7 trọng tâm nhắm tới và tìm kiếm” trong chương trình hành động của Thánh Bộ mà 2 trong số đó chính là:

- Tìm tuyển chọn và đào tạo những thừa sai xứng đáng với nhiệm vụ rao giảng Tin mừng.

- Tìm thiết lập hàng giáo sĩ bản xứ[27].

2.3. Thiết lập các “Giáo phận đại diện Tông tòa”

Nếu việc thiết lập “Thánh Bộ Truyền bá đức tin” chính là “chiến lược mục vụ” nhằm định hướng lại chương trình truyền giáo vốn thiếu hiệu quả, nếu không nói là thất bại, tại Á Châu của cơ chế “Bảo trợ truyền giáo”, thì việc Tòa thánh thiết lập các Giáo phận Đại diện Tông tòa và ban hành Huấn thị 1659 lại là một áp dụng cụ thể cho định hướng mục vụ chiến lược này.

2.3.1. Các Giáo phận đại diện Tông tòa

Khi đọc lại lịch sử truyền giáo tại Việt Nam, chúng ta đều đồng ý rằng: chiến lược truyền giáo tại Á Châu vào thế kỷ 17, đặc biệt, tại Đàng Trong và Đàng Ngoài của Việt Nam, chỉ được thực hiện cách thống nhất và có đường lối rõ rệt dứt khoát kể từ sau sự kiện ngày “9.9.1659”, tức biến cố Tòa thánh thiết lập hai Giáo phận Tông tòa đầu tiên tại Việt Nam: Ngày 9.9.1659, với Sắc chỉ Super Cathedram, Đức Giáo hoàng Alexandro VII đã thiết lập hai Giáo phận Tông tòa Đàng Ngoài và Đàng Trong và giao cho hai Giám mục: Pierre Lambert de La Motte: Đại diện Tông tòa Đàng Trong (Vicario apostolico in regno Cocincinae) và François Pallu: Đại diện Tông tòa Đàng Ngoài (Vicario apostolico in regno Tunchini)[28].

2.3.2. Cha Đắc Lộ và “nhân tố Giám mục” đối với hàng Giáo phẩm và Giáo sĩ Việt Nam

Để tiến tới sự kiện lịch sử “9.9.1659”, dĩ nhiên, có nhiều con đường và sự nỗ lực đóng góp của nhiều người. Tuy nhiên, công đầu phải dành riêng cho cha Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) như nhận xét của linh mục tiến sĩ chuyên về giáo sử Việt Nam, Antoine Bùi Kim Phong trong luận án tiến sĩ của ngài khi liệt kê 5 lý do dẫn tới sự kiện trên mà đây là lý do quan trọng nhất: “Và trên hết, sự hiến mình toàn vẹn và không mệt mỏi của cha De Rhodes dành cho việc thiết lập các đại diện tông tòa cũng như hàng giáo sĩ bản xứ tại Việt Nam được đánh giá cao. Thật sự, cha De Rhodes là người đã mở một trang sử mới của Giáo hội tại Việt Nam, một kỷ nguyên mới của lịch sử truyền giáo tại Á Châu và toàn thể Giáo hội. Thật đúng khi gọi ngài là một trong những nhà truyền giáo vĩ đại nhất trong mọi thời của Giáo hội hoàn vũ”[29].

Là một linh mục tu sĩ Dòng Tên, Cha Đắc Lộ đã dành cả cuộc đời (từ 1619 - 1660) cho hoạt động truyền giáo tại Á Châu (Goa, Macao, Việt Nam, Ba Tư), trong đó, ngài đã xả thân tại Việt Nam hơn 20 năm (1624 - 1645) nên hơn ai hết, ngài tha thiết xây dựng tiền đồ Giáo hội địa phương; và ngài biết rõ yếu tố quyết định và điểm then chốt cho công trình này không gì khác chính là “nhân tố Giám mục”.

Thật vậy, theo cha Đắc Lộ cũng như lập trường tiến bộ của các đấng Bề trên Dòng Tên lúc bấy giờ tại Macao cũng như tại Rôma, cánh đồng truyền giáo tại Á Châu, nhất là tại Đàng Trong, Đàng Ngoài, muốn phát triển và tồn tại phải cần có các Giám mục chăm sóc mục vụ và thiết lập hàng giáo sĩ bản xứ. Tác giả linh mục Bùi Kim Phong đã mô tả nỗi thao thức này của cha Đắc Lộ khi bôn ba tại giáo đô Rôma và thủ đô Paris để hoạt động xin Tòa Thánh gởi các Giám mục sang Việt Nam: “Dù vậy, ngài vẫn không từ bỏ bổn phận quan trọng nhất là tìm kiếm các Giám mục cho Việt Nam. Không có Giám mục, đất nước này không thể có hàng giáo sĩ bản xứ; do đó, có Giám mục là giải pháp hàng đầu của ngài đối với Việt Nam vào thời ấy”[30].

Chính ý tưởng này đã tác động lên cả hàng giáo sĩ Pháp mà bằng chứng rõ nét nhất chính là nội dung bức thỉnh nguyện thư của Hội đồng Giáo sĩ Pháp gởi cho Đức Giáo hoàng Innocentê X vào tháng 7 năm 1653: “Kính thưa Đức Thánh Cha, chúng con, những người ký tên dưới đây, đã được biết thông tin về sự phát triển đáng khâm phục của đức tin Kitô giáo tại các vương quốc Đàng Ngoài và Đàng Trong, hơn 200.000 giáo hữu đang không có mục tử… Để ngăn ngừa sự bất lợi này, cần phải đào tạo linh mục bản xứ và do đó cần thiết lập Giám mục…”[31].

Tạ ơn Chúa, những thao thức và tâm nguyện mà cha Đắc Lộ và hàng giáo sĩ Pháp ôm ấp, thiết tha và vận động đã được Chúa thương chấp nhận!

II. HÀNG “GIÁO SĨ VIỆT NAM”: THỜI CHUẨN BỊ CỦA DÒNG TÊN

Một khi có được cơ chế “Giáo phận”, cho dù là Giáo phận Tông tòa, cùng với các Giám mục Đại diện Tông tòa chăm sóc mục vụ thì “bài toán hàng giáo sĩ của Giáo hội địa phương” xem như đã có được “công thức để giải”! Tuy nhiên, để đi tới một “đáp án” khả dĩ đúng đắn và thích hợp lại là một con đường khá nhiêu khê. Chúng ta thử đi lại con đường phức tạp và đầy chông gai của công cuộc hình thành, phát triển và đào tạo hàng giáo sĩ bản xứ tại Việt Nam; nhất là những đóng góp không nhỏ của các thừa sai Dòng Tên, những “người thợ vườn nho giờ thứ nhất” đã chuẩn bị “những viên đá lót đường” cần thiết và trân quý!

1. Dòng Tên: Những “Người thợ vườn nho giờ thứ nhất”

Trước thế kỷ 17, hay chính xác hơn, trước ngày 18.01.1615, ngày phái đoàn thừa sai Dòng Tên lần đầu tiên đặt chân lên Cửa Hàn Đàng Trong, các dấu vết hoạt động truyền giáo tại Việt Nam đều khá mơ hồ và đầy tồn nghi; ngay cả thời điểm “năm 1533[32], năm mà nhiều tư liệu lịch sử đạo đời vẫn thường chọn như “cột mốc xác định thời điểm đầu tiên” của công cuộc truyền giáo tại Việt Nam.

Nếu chọn thời điểm lịch sử đầu tiên mang tính khoa học và chính xác về công cuộc truyền giáo tại Việt Nam, thì cột mốc khả tín nhất đó chính là năm 1615. Thật vậy, theo những “chứng nhân trong cuộc” (các thừa sai như Cristoforo Borri, Alexandre De Rhodes…) và các Báo cáo chính thức của Dòng Tên, thì chúng ta có chứng tích rõ ràng về thời điểm, địa điểm cũng như nhân vật lần đầu tiên đặt chân đến Việt Nam: Do cuộc bách hại tại Nhật Bản, nhất là chỉ dụ cấm đạo 14.02.1614, các thừa sai bị buộc rời khỏi nước Nhật cùng với những thông tin thuận lợi và hấp dẫn của thuyền trưởng thương gia Ferdinand Costa về xứ Đàng Trong, Bề trên tỉnh dòng Macao của Dòng Tên Valentim Carvalho đã cử phái đoàn truyền giáo đầu tiên đến Đàng Trong gồm ba người: Cha Buzomi (người Ý là Trưởng đoàn), cha Diogo Carvalho và tu huynh Antonio Dias (người Bồ). Các ngài đã cập bến Đàng Trong tại Cửa Hàn ngày 18.01.1615 (x. CHRISTOFORO BORRI)[33].

Theo tác giả linh mục Nguyễn Hữu Trọng, các thừa sai Dòng Tên chính là “nhóm thợ tông đồ mới được kêu gọi để đặt nền móng cho Giáo hội ở đây… Thật vậy, các tu sĩ Dòng Tên là những người sáng lập thực sự của Giáo hội Việt Nam… Trong công trình xây dựng Giáo hội Việt Nam, Chúa đã quan phòng cho các tu sĩ Dòng Tên đóng vai trò của những người thợ giờ thứ nhất để đặt nền móng cho công trình…[34].

2. Hội Thầy Giảng: những viên đá lót đường

2.1. Dòng Tên - Cha Đắc Lộ - Hội Thầy Giảng tại Việt Nam

Là những nhà truyền giáo kiệt xuất, các thừa sai Dòng Tên luôn biết vận dụng mọi phương thế có trong tầm tay để “Ad majorem Dei gloriam” (Để Chúa được vinh danh hơn); và một trong những phương thế đắc lực cho công cuộc truyền giáo vào thế kỷ 17 mà các thừa sai Dòng Tên ở Nam Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản, Việt Nam… vận dụng cách sáng tạo đó là các “Thầy Giảng”[35].

Trong sự kiện Tòa Thánh cắt đặt các Giám mục Đại diện Tông tòa cho cánh đồng truyền giáo Viễn Đông, tiền đề nền tảng để thiết lập hàng giáo sĩ bản xứ, có thể nói được, cha Đắc Lộ là người có công đầu; và cái nôi để đào tạo nên thế hệ giáo sĩ đầu tiên cho Việt Nam, tức tổ chức Thầy Giảng, cũng do chính cha Đắc Lộ thiết lập: “Tại Việt Nam, vấn đề thầy giảng cũng nẩy sinh do nhu cầu truyền giáo và hoàn cảnh lịch sử như trên, nhưng do một sự sắp đặt riêng của Chúa Quan phòng, tổ chức này đã trở nên một phương pháp chuẩn bị trực tiếp để thiết lập hàng linh mục, vì tất cả các linh mục Việt Nam đầu tiên đều xuất thân tự hàng thầy giảng. Đó là công nghiệp đặc biệt của giáo sĩ Đắc Lộ”[36] (x. NGUYỄN HỮU TRỌNG)[37].

Chính cha Đắc Lộ đã từng tâm đắc về công trình này: “Điều giúp tôi đắc lực để vun trồng vườn nho đẹp đẽ nầy và mở rộng đức tin, đó là trợ lực của các thầy giảng. Thực ra, sau Thiên Chúa thì chính là các thầy đã làm tất cả công việc, trong tất cả những tiến triển vĩ đại ở giáo đoàn này”[38].

Trong tác phẩm “Nguồn gốc hàng giáo sĩ Việt Nam”, cha Nguyễn Hữu Trọng đã dành những dòng trân trọng nói về “hàng thầy giảng”, những “viên đá lót đường” cho hàng giáo sĩ tương lai: “Sau khi họ đến, giáo đoàn Việt Nam đã được thiết lập vững chắc. Và nếu chưa thể tự sống một mình vì thiếu hàng giáo sĩ bản xứ, thì giáo đoàn này cũng đã đang trên đường đi đến chỗ tự lập nhờ việc thiết lập hàng thầy giảng, những người vừa đem lại sự trợ giúp cho các nhà truyền giáo, vừa là những viên đá lót đường cho hàng giáo sĩ tương lai”[39].

2.2. Hội thầy giảng: mô hình đào tạo nhân sự truyền giáo chuẩn mực

2.2.1. Thời điểm thành lập và mục tiêu hướng tới

Theo linh mục Đỗ Quang Chính, nhà sử học của Dòng Tên Việt Nam, nếu căn cứ trên tinh thần tu trì và công việc phục vụ, thì tổ chức “thầy giảng” của các cha Dòng Tên có thể được gọi là “Tu hội thầy giảng”: “Bởi vì các thầy giảng tuyên khấn “công khai” ba lời khuyên Phúc âm và sống cộng đoàn, mặc dù chưa được Tòa thánh châu phê, cũng chẳng được Giám mục Giáo phận thiết lập như là Dòng tu. Vậy, khi gọi là Tu hội thầy giảng, chúng tôi muốn nói đến tinh thần tu trì và công việc phục vụ các linh hồn của các thầy giảng hơn là chú trọng tới khía cạnh pháp lý”[40].

Cũng theo linh mục sử gia này, Hội thầy giảng chính thức được cha Đắc Lộ thiết lập đầu tiên tại Kẻ Chợ Đàng Ngoài ngày 27.4.1630 trước khi bốn thừa sai Dòng Tên đang hoạt động tại đây bị chúa Trịnh Tráng trục xuất: Pedro Marques, Alexandre de Rhodes, Gaspar d’Amaral và Paulo Saito. Mục đích đầu tiên của các thừa sai Dòng Tên khi thiết lập “tổ chức thầy giảng” chính là để thay thế các ngài chăm sóc giáo đoàn Đàng Ngoài, một cộng đoàn Kitô hữu non trẻ mới vừa được các ngài thiết lập[41]. Trong khi đó, hội thầy giảng Đàng Trong được chính thức thiết lập ngày 31.7.1643, ngày lễ kính thánh Ignatio tại Hội An, cùng với lời tuyên thệ “phục vụ Giáo hội suốt đời, không lập gia đình và sẽ vâng lời các cha trong Dòng đến rao giảng trong đất nước họ hoặc những người mà các cha cử đến thay cho mình”[42].

2.2.2. Tiêu chí đào tạo và kết quả

Cũng theo linh mục Đỗ Quang Chính, để được gia nhập hội thầy giảng, các ứng sinh Kitô hữu phải hội đủ bốn điều kiện sau:

- Ý chí và nhiệt tình phục vụ.

- Trí khôn trung bình và biết chữ Hán.

- Độc thân.

- Trưởng thành[43].

Dĩ nhiên, trong điều kiện khắc nghiệt của thời bị cấm cách cùng những khó khăn của “một thuở ban đầu”, tổ chức thầy giảng chỉ là những cộng đoàn nhỏ bé, tạm bợ; dần dần việc tổ chức huấn luyện và đào tạo các thầy giảng đi vào nề nếp, quy củ như một “chủng viện”; nhất là khoảng từ năm 1631-1638, khi thừa sai Gaspar d’Amaral hoạt động tại Đàng Ngoài. Chính vị thừa sai này đã để lại chứng từ qua những báo cáo viết từ năm 1645: “Nền tảng của giáo đoàn Đàng Ngoài là các cha (Dòng Tên) và các thầy giảng; các thầy này sống chung trong một chủng viện do các Kitô hữu nâng đỡ bằng của làm phúc”[44].

Riêng cha Đắc Lộ, trong phúc trình lên Đức Giáo hoàng Innocente X năm 1652, ngài đã xác quyết: “Số chủng sinh ở Đàng Ngoài đã tới gần 100, và trong số này đã có mấy người “rất xứng hợp với chức vụ linh mục cả hai mặt đạo đức và tài trí”[45]. Trong khi đó, tại Đàng Trong, con số thầy giảng đầu tiên chỉ có 10 người mà cha Đắc Lộ ca tụng rằng: “Tất cả đều đến từ các tỉnh khác nhau của vương quốc, nhưng họ có cùng một trái tim là hết lòng vì Chúa và hoàn toàn tận tụy với Giáo hội”. Đặc biệt, có ba thành viên trong nhóm sau này được phúc tử đạo: đó là thầy Anrê Phú Yên (tử đạo ngày 26.7.1644 và đã được phong Á thánh), thầy Ignatio và thầy Vincentê[46].

Sau đây là những “con số biết nói” để chứng thực những hoa trái về ơn gọi giáo sĩ phát xuất từ cái nôi đào tạo mang tên “thầy giảng”: theo chứng từ của Công Nghị Phố Hiến 1670 còn lưu lại, từ năm 1668-1670, Đức cha Lambert de La Motte đã phong chức linh mục cho 11 thầy giảng gồm 2 thầy thuộc Đàng Trong (Giuse Trang, Luca Bền) và 9 thầy thuộc Đàng Ngoài (Bentô Văn Thiện (Hiền), Giuong Văn Huệ (Học), Mattinho Mật, Antong Văn Học (Quế), Philiphe Văn Nhân (Nhiêu), Simong Kiên, Giacôbê Văn Kim, Bentô Văn Tuy (Vitô Tri), Leo Văn Trung (Trụ)[47].

Cũng đừng quên, từ tổ chức thầy giảng, môi trường mục vụ các xứ đạo Việt Nam lại xuất hiện một mô hình đặc biệt cũng liên quan đến việc huấn luyện, đào tạo ơn gọi tu trì đó là “Nhà Đức Chúa Trời” (Domus Dei), tức là mái nhà chung tại các xứ đạo, nhất là vùng Đàng Ngoài. Nơi “mái nhà chung” này, cha xứ như là người chủ gia đình có trách nhiệm chăm sóc những người “giúp việc nhà Chúa” như cha phó, các thầy giảng, các chú tập tu, các người giúp việc… Mô hình này vẫn còn thích hợp và tồn tại trong việc chuẩn bị ơn gọi tu trì trong Giáo hội Việt Nam hôm nay[48].

Để đánh giá tầm quan trọng của Hội thầy giảng trong tiến trình thành lập hàng giáo sĩ bản xứ, cố linh mục Nguyễn Hữu Trọng đã tóm kết như sau: “Như thế, trước khi các linh mục của Hội Thừa sai Hải ngoại đến để hoàn thành việc thiết lập hàng giáo sĩ trong nước tại Việt Nam, một chủng viện thực sự đã được hình thành trong Địa phận, những đối tượng được tuyển chọn và nhận một sự huấn luyện vững chắc về luân lý và tín lý, họ chỉ còn chờ thời cơ và một sự chuẩn bị trực tiếp để lãnh nhận chức thánh và tiến lên bàn thờ Chúa”[49].

III. HIỆN TÌNH “HÀNG GIÁO SĨ BẢN XỨ” VÀO THỜI “GIÁO PHẬN TÔNG TÒA”

1. Định hướng chiến lược về giáo sĩ của Huấn thị 1659

1.1. “Huấn thị 1659”: Chương trình hành động của Thánh bộ Truyền bá đức tin

Cùng với việc thiết lập các giáo phận đại diện Tông tòa, Tòa thánh thông qua Thánh Bộ Truyền bá đức tin, đã trao cho các “Giám mục được sai đi” một “bửu bối tinh thần” đó là “Huấn thị 1659”, chẳng khác nào “lá bùa hộ mệnh” để các vị yên tâm dấn thân trên con đường loan báo Tin mừng. Linh mục Đào Quang Toản đã nhận xét về sự kiện quan trọng này bằng những dòng sau: “Bây giờ, tới lúc Thánh Bộ cần phải trao cho các Giám mục thừa sai này những chỉ thị, hướng dẫn, dặn dò, v.v., trước khi họ lên đường. Và để soạn thảo được những điều trên, các nhân viên Thánh Bộ “đã phải lật mở từng tờ văn thư của Thánh Bộ từ khi thành lập, rồi xem xét, rồi thu thập tất cả những dự án, những giải pháp, những chỉ thị đã làm, đã ra, liên quan tới các cuộc truyền giáo và các thừa sai trên toàn thế giới”. Sau cùng, bản Huấn thị hoàn tất và được gửi đi ngày 10.11.1659 cho các tân giám chức người Pháp”[50]. (Để hiểu thêm về “Tên gọi” hay “Danh xưng” của văn kiện này, xin xem ĐỖ QUANG CHÍNH)[51].

Theo đánh giá chung của các nhà nghiên cứu, văn kiện “Huấn thị 1659” có thể được coi như “Tài liệu chung cuộc” trong chương trình hành động của Thánh Bộ Truyền bá Đức tin: “Người ta có thể coi như tài liệu chung cuộc về chương trình hoạt động của Thánh Bộ là bản Huấn thị vĩ đại năm 1659 gửi các vị Đại diện Tông tòa miền Đông Dương… Điều đáng kể là Thánh Bộ đã có được một chương trình rõ ràng và rất thích ứng với những nhu cầu cụ thể và với những vấn đề truyền bá đức tin. Dựa theo đó, Thánh Bộ có thể hướng dẫn các thừa sai một cách thống nhất và Thánh Bộ có sẵn chương trình để quy chiếu. Công trạng đã xây dựng được chương trình đó thuộc về vị thư ký Phanxicô Ingoli. Ngài đã vạch ra con đường mà Thánh Bộ phải dấn thân vào[52].

1.2. Huấn thị 1659 và “Định hướng giáo sĩ”

1.2.1. Tiếp cận các nội dung bản văn:

- Giáo sĩ bản xứ phải là ưu tiên hàng đầu

“Đây, lý do chính thúc đẩy Thánh Bộ đã cử chư huynh đến các xứ ấy với chức vụ Giám mục, là để chư huynh, bằng mọi phương thức có thể, lo đảm trách giáo dục thanh niên, giúp họ đủ khả năng lãnh nhận chức vụ linh mục. Chư huynh sẽ tấn phong cho họ và cử họ đi khắp các miền bao la ấy, mỗi người công tác trong quốc gia của mình; ở đó họ sẽ hết lòng phụng sự đạo Chúa nhờ chư huynh ân cần chăm sóc. Vậy chư huynh hãy luôn đặt trước mắt mục đích này là tuỳ sức có thể chư huynh hãy làm sao đưa dẫn được nhiều người và là những người có nhiều khả năng đạt đến chức thánh, đào luyện họ và truyền chức cho mỗi người lúc họ đã sẵn sàng” (Huấn thị 1659, III, 1).

- Giáo sĩ bản xứ và các tiêu chí đào tạo

“Nếu trong các trường đó, chư huynh gặp thấy có những thanh thiếu niên tính tốt, đạo đức, có lòng sốt sắng và tận hiến, có khả năng theo học văn chương và có triển vọng sống cuộc đời giáo sĩ, thì chư huynh hãy nuôi lòng nhiệt thành của chúng và làm sao cho chúng tiếp tục học chứ không bị lôi cuốn rẽ theo ngả khác. Sau khi họ đã được tiến bộ đủ về văn học lẫn đạo đức, chư huynh có thể nhận họ vào hàng giáo sĩ, và đến thời gian thích hợp, hãy thử thách họ qua nhiều cuộc tĩnh tâm và dò xét ý hướng của họ cũng như ơn kêu gọi đối với đời sống linh mục, rồi mới truyền chức thánh cho họ. Sau lại cử họ đi rao giảng Phúc âm Chúa Kitô cho đồng bào của họ” (Huấn thị 1659, III, 22).

- Giáo sĩ bản xứ và việc huấn luyện toàn diện (chú trọng nhân bản)

“Bởi thế, ngay từ ban đầu, chư huynh phải rất cẩn thận tìm kiếm và nhận định ra giữa muôn người những ai, theo tuổi tác và sức khỏe, có khả năng gánh vác các công việc. Cũng như rất cần phải biết ai là kẻ có lòng bác ái cao cả và có tính cẩn thận. Chúng ta nhận ra được những nhân đức này, không phải bằng sự suy xét về con người hay về cảnh ngộ, nhưng qua việc áp dụng và thi hành thực tế cùng kinh nghiệm của những người khác trong các công tác đã hoàn tất cách đáng ca ngợi. Đây là những kẻ có khả năng sống kín đáo và kiên trì bảo mật, có phong thái đứng đắn, lịch thiệp, hiền lành, kiên nhẫn, khiêm tốn và lo tìm cách nêu gương sáng tất cả các nhân đức của niềm tin Kitô giáo mà họ tuyên xưng. Họ là những người đã được đào tạo theo chuẩn mực bác ái của Phúc âm, biết hòa hợp với phong tục và tính nết người khác. Họ không trở nên gánh nặng cho những đồng bạn mà họ phải chung sống. Họ không trở thành kẻ đáng bị ghét bỏ nơi những người dân ngoại quốc hay là kẻ bội bạc xấu xa; nhưng là người, như thánh Tông đồ, trở thành tất cả cho mọi người” (Huấn thị 1659, I, 1).

- Giáo sĩ bản xứ và viễn tượng Giám mục

“Trong số những người chư huynh đã truyền chức, có lẽ có người xứng đáng lên chức Giám mục. Tuyệt đối cấm ngặt chư huynh không được ban chức cao trọng đó cho một người nào; nhưng hãy phú cho Thánh Bộ rõ danh tánh, đức độ, tuổi tác họ cũng như mọi điều khác nên biết, như vị trí chư huynh có thể truyền chức cho họ, giáo phận chư huynh có thể giao cho họ cai quản và nhiều chi tiết khác như vậy sẽ bàn tới sau này” (Huấn thị 1659, III, 2).

1.2.2. Vài nhận định

- Một tầm nhìn chiến lược

Với định hướng về nhân sự như thế, chúng ta có thể nói được, Huấn thị 1659 đã có một tầm nhìn chiến lược về mục vụ truyền giáo như phân tích và nhận định của cha F. Gomez: “Lịch sử ghi lại bài học này là khi không sống tự túc được thì các Giáo hội địa phương cũng không tồn tại được. Suốt trong quá trình lịch sử Giáo hội cho đến nay, châu Âu là nguồn suối “cung cấp” thừa sai; bây giờ, xem ra suối đang cạn dần... vì thế, các Giáo hội “trẻ” không những cần phải tự túc, mà còn phải góp phần ngày càng lớn hơn, cho công cuộc truyền giáo tại địa phương, quê nhà cũng như nơi các dân nước khác”[53].

Đây chính là điều mà gần 400 năm sau, Công đồng Vatican II đã tái xác nhận trong Sắc lệnh về Truyền giáo (Ad Gentes): “Thật vậy, Giáo hội càng bén rễ vững chắc hơn nơi cộng đồng địa phương, khi chính các thành viên của cộng đoàn tín hữu trở thành thừa tác viên của ơn cứu độ, thuộc hàng Giám mục, linh mục cũng như phó tế, để phục vụ anh chị em mình, và như thế, tại các Giáo hội mới thành lập, dần dần hình thành cơ cấu Giáo phận với hàng giáo sĩ riêng”[54].

- Đã được thực hiện đến đâu?

Nếu tất cả mọi Giám mục đều thực thi đúng đắn và hết mình trách nhiệm chính yếu như Huấn thị chỉ dẫn: “Đây, lý do chính thúc đẩy Thánh Bộ đã cử chư huynh đến các xứ ấy với chức vụ Giám mục, là để chư huynh, bằng mọi phương thức có thể, lo đảm trách giáo dục thanh niên, giúp họ đủ khả năng lãnh nhận chức vụ linh mục...”, thì chắc chắn, không phải đợi đến 300 năm sau, năm 1960, Việt Nam mới có được “Hàng Giáo phẩm” với một đội ngũ linh mục bản xứ hùng mạnh, mà đã từ lâu!

Riêng Giáo hội Việt Nam, đã hơn 60 năm, kể từ khi Hàng Giáo phẩm được thành lập đến nay (1960-2024), với hàng ngũ Giám mục địa phương đông đảo của 27 Giáo phận chính tòa, nếu soi mình vào tiêu đích của Huấn thị trên, liệu chúng ta đã đào tạo được bao nhiêu linh mục, Giám mục người Bana, Giarai…? Liệu hàng giáo sĩ của anh em dân tộc đã được quan tâm đúng mức chưa?

Đừng quên, “cái lý do chính” mà Huấn thị 1659 nhấn mạnh đó, vào năm 1992, Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã nhắc lại và cắt nghĩa thêm trong Tông huấn “Pastores Dabo Vobis”: “Vị đại diện đầu tiên của Đức Kitô trong việc đào tạo linh mục chính là Giám Mục”[55]. Vì thế, đây không thuần túy là chuyện “ôn cố” mà chính là để “tri tân” vậy!

2. Hội truyền giáo hải ngoại Paris và chủng viện đào tạo thừa sai hải ngoại

Chúng ta biết rằng: cùng thời điểm khi Tòa thánh thiết lập hai Giáo phận Tông tòa và cắt đặt các Đại diện Tông tòa cho vùng Á Châu (1659) thì tại Pháp, đất nước được mệnh danh là “Trưởng nữ của Giáo Hội”[56] cũng đang nhen nhúm hình thành Chủng viện và Hội Truyền giáo hải ngoại Paris (MEP); và hai trong những vị sáng lập hội này lại là hai Đại diện Tông tòa tại Việt Nam: Đức cha F. Pallu, Đại diện Tông tòa Đàng Ngoài và Đức cha P. Lambert de la Motte, Đại diện Tông tòa Đàng Trong[57]. Riêng cha Đỗ Quang Chính lại cho rằng: “Có thể nói được rằng, nhân dịp “nhóm” các Giám mục Pháp đầu tiên đến phục vụ hai giáo phận Việt Nam, mà xuất hiện chủng viện và Hội thừa sai Paris. Từ đó hội này phát triển đều đặn, gửi nhiều Giám mục và linh mục đi truyền giáo ở Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Triều Tiên, Campuchia, Lào, Thái Lan, Malaysia, Myanmar, Ấn Độ, Madagascar…”[58].

Chính tổ chức này, nhất là cơ cấu “chủng viện thừa sai” của Hội, đã trở thành một yếu tố quan trọng dẫn tới những áp dụng cụ thể và thích hợp cho việc thành lập hàng giáo sĩ bản xứ, như điều khoản đầu tiên trong Nội quy của Hội đã nêu bật: “Cái nhìn đầu tiên mà Chúa ban cho các Giám mục và giáo sĩ Pháp – những người đã họp nhau lại thành hội vào giữa thế kỷ 17 nhằm đưa người ngoại giáo ở hải ngoại trở lại đạo – và ý định chính của Tòa Thánh khi gửi các vị ấy đến các địa phận truyền giáo với danh hiệu Đại diện Tông tòa và thừa sai, chính là để đẩy mạnh việc dân ngoại trở lại đạo, không chỉ bằng cách loan báo Tin mừng cho họ mà nhất là bằng cách chuẩn bị bằng các phương thế tốt nhất và nâng lên hàng giáo phẩm, những người Kitô hữu mới hoặc con cái của họ, được xét thấy là phù hợp với bậc thánh này, để hình thành ở mỗi nước một hàng giáo sĩ và một phẩm trật như Chúa Kitô và các Tông đồ đã thiết lập trong Giáo hội…”[59].

3. Những áp dụng thực hành “đi cùng năm tháng” của chỉ thị MONITA

3.1. Thời gian và không gian để quan sát hiện tình

Đức Cha Lambert de la Motte đến tại Ajuthia[60], kinh đô hồi đó của vương quốc Thái Lan (Siam) ngày 22.8.1662, sau hơn 1 năm, 8 tháng, 25 ngày kể từ lúc xuống tàu tại cảng Marseil (27.01.1660)[61]. Riêng Đức cha Pallu, ngài rời Marseil ngày 03.01.1662 và hội ngộ cùng Đức cha Lambert tại Ajuthia ngày 28.01.1664[62]. Vì cả hai đều chưa đến được nhiệm sở Đàng Ngoài lẫn Đàng Trong, nên các ngài lợi dụng thời gian và không gian “thuận tiện” này để chuẩn bị một “chương trình hành động” sao cho thích hợp và hiệu quả, như được ghi lại trong “Thư đệ trình Đức Giáo Hoàng Clément IX của các ngài: Một biến cố “thuận lợi” chưa chắc đã giúp ích cho chúng con bằng việc chúng con phải bị bắt buộc dừng lại lúc vừa đến ranh giới lãnh thổ được giao phó. Ý Chúa quan phòng đã làm chậm lại những nỗ lực của chúng con để chúng con cùng nhận ra điều phải làm hoặc phải tránh, đồng thời sự quan phòng cũng bảo đảm “một vụ mùa bội thu” sắp tới”[63].

3.2. Công nghị Ajuthia 1664

3.2.1. Hiện thực hóa “định hướng mục vụ của Huấn thị 1659”

Với “Định hướng của Thánh Bộ” (Huấn thị 1659), lại may mắn có được một thời gian thuận lợi để quan sát cùng một địa điểm yên bình để cầu nguyện và làm việc chung, “nhóm thừa sai Pháp” đã tiến hành một Công nghị vào thứ Sáu sau ngày Thứ Tư Lễ Tro năm 1664[64], với lý do thiết thực liên quan đến “nhân sự mục vụ” nhưng cũng đầy “nhạy cảm” và phức tạp cho chương trình mục vụ tổng thể lúc bấy giờ: “Xét định các bê bối rất lớn và vô kỷ luật của những giáo sĩ triều và các dòng tu nơi những miền này, nói chung, và cách riêng, lo tránh né các tệ hại đó và tìm các phương tiện để đừng sa ngã vào”[65].

Công Nghị Ajuthia 1664 với văn kiện đúc kết là Monita ad missionarios, thực chất là việc triển khai các định hướng của Huấn Thị 1659 để đưa vào áp dụng mục vụ thực hành, nhất là Phần III của Huấn Thị nầy: Tại nơi truyền giáo (In ipsa missione) với 23 mục[66], trong đó, có ba mục quan trọng liên quan đến hàng linh mục được MONITA tập chú khai triển và đề xuất những phương án hành động:

- Mục (1): Đào tạo giáo sĩ bản quốc.

- Mục (17): Buộc các linh mục giữ đúng kỷ luật truyền giáo.

- Mục (22): Đào tạo linh mục tương lai.

Sau đây là các chiều kích trong “linh đạo thừa sai” mà Monita nhắm đến trong kế hoạch đào tạo nhân sự cho vùng truyền giáo Á châu, nhất là cho hai Giáo phận Tông tòa Đàng Ngoài và Đàng Trong.

3.2.2. Monita và linh đạo tông đồ

Sau khi xem xét tường tận đời sống không đúng mực và suy thoái của “một bộ phận không nhỏ” trong hàng ngũ các thừa sai (Chương I) đang dấn thân trong sứ vụ truyền giáo tại Á châu, Monita đã đề nghị một giải pháp, một con đường, đúng hơn, một linh đạo tông đồ[67] để theo đó, tái huấn luyện hàng ngũ thừa sai cũng là hàng ngũ linh mục bản xứ sau nầy (Chương II, III). Đây là các nét chính của linh đạo này:

- Tĩnh tâm gặp gỡ Chúa Kitô.

- Khổ chế và cầu nguyện.

- Chống lại ma quỉ bằng vũ khí hữu hiệu là Lời Chúa.

- Tìm hiểu thực trạng mục vụ và bối cảnh truyền giáo.

- Tựa nương vào Chúa thay vì tìm kiếm phương tiện tuần tuý con người.

- Tránh xa việc buôn bán, thương mại.

- Bao dung không dùng bạo lực và áp đặt.

- Đặt niềm tin nơi Chúa, không dựa trên sự khôn ngoan loài người.

- Kiên trì trong “lựa chọn thập giá”.

3.2.3. Monita và thừa tác vụ rao giảng (Chương IV):

- Xác tín vào “sứ mệnh cốt yếu” của việc rao giảng.

- Rao giảng bằng chính cuộc sống.

- Chuẩn bị giảng Lời Chúa cách cẩn thận.

- Giảng dạy Lời Chúa bằng ngôn ngữ cho mọi người.

3.2.4. Monita và vai trò thầy dạy đức tin (Chương V):

- Làm chứng “Đạo Thật” trong môi trường ngoại giáo.

- Dạy chân lý đức tin và trình bày dung mạo Thiên Chúa qua ngôn ngữ dễ thuyết phục.

- Không chỉ dạy “tín lý” mà còn “luật đạo” và “giới răn”.

3.2.5. Monita và tương quan xã hội của linh mục:

- Cẩn trọng và cầu nguyện trong tương quan với các tôn giáo, niềm tin khác.

- Cởi mở, khoan dung và hội nhập văn hóa.

3.2.6. Monita và mục vụ huấn giáo (Chương VI, VII, VIII):

- Quan tâm đến mục vụ Dự tòng.

- Thực hiện chương trình Huấn giáo dự tòng và tân tòng cách nghiêm túc, đúng đắn…

3.2.7. Monita và mục vụ quản trị đoàn chiên (Chương IX):

- Quan tâm và trung tín chu toàn trách vụ chăm sóc cộng đoàn.

- Thực hiện sứ vụ đào tạo các thầy giảng (giáo lý viên).

3.2.8. Monita và định hướng đào tạo thầy giảng và ứng viên lên chức thánh (Chương X):

- Định hướng tổng quát về việc đào tạo thầy giảng – tiền đề ứng viên lên chức thánh (Tiết 1&2).

- Định hướng về việc đào tạo thầy giảng thành ứng viên lên chức thánh (Tiết 3).

Sau đây là một số “điểm nhấn” của Monita trong việc đào tạo ứng viên lên chức thánh:

* Phải lựa chọn những “thầy giảng có nhân đức trổi vượt”: “Chức thánh thì cao trọng hơn chức thầy giảng. Vậy các thầy được đề nghị đón nhận chức thánh phải có những phẩm hạnh cao hơn những phẩm hạnh mà chúng tôi đã nói là cần thiết thực tế nơi các thầy giảng. Hơn nữa, ta sẽ không giao trọng trách quan trọng và nguy hiểm này lên vai những người tu hành bình thường mà cho những thầy được đề cử bởi những nhân đức thật sự thoát tục, để các thầy sẽ không tìm lại vinh dự này cho chính họ mà để các thầy được Chúa kêu gọi như Aaron” (MONITA, Chương X, tiết 3).

* Phải “đọc thông viết thạo” khi chịu chức cắt tóc: “Để chấp nhận cắt một chòm tóc trên đầu, các thầy được đòi hỏi… đọc thông viết thạo, ít nữa là trong tiếng mẹ đẻ… Những điều kiện này tuyệt đối cần thiết” (MONITA, Chương X, tiết 3).

* Phải biết tiếng La tinh căn bản khi chịu các chức nhỏ: “Để đón nhận các chức nhỏ, họ phải nắm vững những sơ đẳng của tiếng La tinh để khi cần đòi hỏi những hiểu biết này và cũng để có khả năng cần thiết hoàn thành xong việc học tập liên quan đến chức thánh” (MONITA, Chương X, tiết 3).

* Các ứng sinh tiến chức phải thông thạo phụng vụ Thánh lễ, các bí tích: “Những ứng sinh tiến chức phải biết thấu đáo tất cả các điều liên quan đến Hy Tế Thánh của Thánh lễ… Đối với họ không phải là ít cần thiết để hiểu biết, liên quan tất cả các bí tích, thể thức và chất liệu để hiểu biết các lễ nghi ban cho thường xuyên và những tâm tình xứng hợp để đón nhận các nghi lễ, nhất là liên quan đến bí tích Sám hối…” (MONITA, Chương X, tiết 3).

3.3. Chủng viện Thánh Giuse Ajuthia: thành quả ban đầu

3.3.1. Đức cha Lambert: vị chủ chăn thiết đặt nền móng cho Giáo hội Việt Nam

Theo sắc chỉ Super Cathedram, Đức cha Fr. Pallu chính là Vị Đại diện Tông tòa cai quản giáo phận Tông tòa Đàng ngoài. Tuy nhiên, vì nhiều khó khăn và phức tạp, ngài chưa bao giờ đặt chân lên nhiệm sở; và ngài đã giao quyền chăm sóc mục vụ cho Đức cha Lambert trong khi ngài vắng mặt. Vì thế, Đức cha Lambert “phải được coi là người tổ chức chính của Giáo Hội Việt Nam trong giai đoạn lịch sử mới này”[68]. Riêng Đức cha Lambert, vì là người đến Ajuthia trước Đức cha Fr. Pallu, nắm bắt hiện tình của vùng truyền giáo rõ hơn, và nhất là, cưu mang sẵn ý tưởng về linh đạo Thập giá và việc thiết lập các hội đoàn tông đồ, nên có thể nói được, ngài chính là linh hồn, là sợi chỉ đỏ chi phối văn kiện “Monita”, ảnh hưởng nhất định việc đào tạo linh mục bản xứ cũng như là vị hoa tiêu lèo lái con thuyền Giáo hội Việt Nam buổi đầu![69].

3.3.2. Chủng viện thánh Giuse: nơi đào tạo và tiến chức của các linh mục tiên khởi Việt Nam

Theo quyết nghị của Công nghị Ajuthia 1664, chủng viện đầu tiên mang tên “chủng viện thánh Giuse”[70] được chính thức thành lập ở Ajuthia khoảng năm 1665 (hoặc 1666) nhằm đào tạo linh mục phục vụ cánh đồng truyền giáo tại Á châu, nhất là các linh mục bản xứ, “những người sẽ nhận được nét chấm phá cuối cùng và như dấu xác nhận họ đã có sự chuẩn bị cần thiết”[71]. Mặc dù chủng viện thánh Giuse ở Ajuthia tiếp nhận các chủng sinh thuộc Đàng Ngoài, Đàng Trong và cả các chủng sinh thuộc Hội Thừa sai, nhưng danh chánh ngôn thuận, đây là chủng viện của giáo phận Tông tòa Đàng Trong, vì Đức cha Lambert, người sáng lập, là Giám mục đại diện Tông tòa Đàng Trong; nhất là theo “Di chúc” ngài để lại: “Tôi trao lại tất cả tài sản thuộc về tôi lúc tôi từ trần, để dùng vào việc thiết lập và duy trì chủng viện của giáo phận Tông tòa Đàng Trong, và việc chăm sóc các kẻ ngoại đang học đạo, các tín hữu và các chủng sinh”[72].

3.4. Các Công nghị giáo phận và định hướng mục vụ giáo sĩ

Cùng với việc thành lập chủng viện Giuse tại Ajuthia, tiếp đón các ứng sinh (thầy giảng) được tuyển lựa và giới thiệu từ tổ chức Thầy giảng để “đào tạo bổ sung” về các môn học thánh liên quan đến chức linh mục, các vị chủ chăn lúc bấy giờ (đặc biệt, Đức cha Lambert de La Motte) đã vận dụng con đường “Công nghị” (Synode) để định hướng việc hình thành lớp linh mục bản xứ. Không kể Công nghị đầu tiên trên đất Thái (Ajuthia 1664), từ Công nghị Phố Hiến (14.02.1670) tại Đàng Ngoài đến Công nghị Hội An lần I (19.01.1672), ưu tiên hàng đầu của các chủ chăn và các cộng sự viên vẫn là những định hướng liên quan đến hàng giáo sĩ.

Thật vậy, với 34 Điều, Công nghị Phố Hiến đã dành các Điều 1, 2 chăm lo đời sống các linh mục; Điều 10-14 liên quan đến chủng sinh; Điều 19-22 về thừa tác vụ bí tích của linh mục… Trong khi đó, Công nghị Hội An dành Điều 1 để công bố các Đoản sắc của Tòa thánh, nhất là Đoản sắc 1659 (Huấn thị 1659) về trách nhiệm đào tạo hàng giáo sĩ bản xứ của các chủ chăn…

Có một điều cũng cần lưu ý: các Công nghị đầu tiên này mang dấu ấn “hiệp hành” (synodality) rất cao; hầu hết các linh mục được mời tham dự cùng với đông đảo các thầy giảng và đại diện giáo dân… Có những linh mục bản xứ đóng một vai trò quan trọng trong tiến trình Công nghị (như trường hợp cha Giuse Trang được chỉ định làm thư ký tiếng Việt trong Công nghị Hội An)[73].

IV. THẾ HỆ GIÁO SĨ VIỆT NAM TIÊN KHỞI: NHỮNG “HẠT GẠO TRÊN SÀNG”

1. Những linh mục dưới thời Đức cha Lambert de la Motte

1.1. Thế hệ linh mục Việt Nam tiên khởi: kết quả của một “lựa chọn hiệp hành”

Là vị chủ chăn đầu tiên thuộc Hội Thừa sai Hải ngoại thực hành đường lối mục vụ truyền giáo mới dưới “tấm bảng chỉ đường” của Thánh bộ truyền bá đức tin, chắc chắn Đức cha Lambert và các linh mục cộng tác của ngài phải đối diện với muôn vàn thách đố mà ảnh hưởng của chế độ Bảo trợ truyền giáo vẫn còn đậm nét trên mọi nẻo đường mục vụ. Sự nghi ngờ, bất hợp tác, không vâng phục…; thậm chí bị lên án, ra vạ tuyệt thông, bắt cóc, loại trừ… bởi các quan chức đạo đời: về đạo, đó là những rắc rối, tị hiềm, khó khăn trong tương quan với các thừa sai Dòng Tên; về đời, đó là những trịch thượng, lạm dụng đặc quyền “Bảo trợ truyền giáo” của các quan chức Bồ Đào Nha[74].

Tuy nhiên, Đức cha Lambert và các cộng sự viên của ngài vẫn rất khôn ngoan và dịu dàng, bao dung nhưng cũng rất cương quyết. Mặc dù ngài can đảm không thỏa hiệp với những lệch lạc của chế độ Bảo trợ, nhưng luôn trân trọng những “hoa trái đức tin” mà chế độ Bảo trợ truyền giáo đã sản sinh, nhất là những kết quả tuyệt vời của các thừa sai Dòng Tên. Bằng chứng rõ nét nhất là các ngài chỉ chọn lựa các ứng viên lên chức linh mục xuất thân từ hàng ngũ thầy giảng, tức các học trò ưu tuyển của Dòng Tên (như bốn linh mục đầu tiên được truyền chức tại Thái Lan: Giuse Trang (thuộc Đàng Trong; chịu chức tại Ajuthia ngày 31.3.1668)[75], Luca Bền (thuộc Đàng Trong; chịu chức tại thành phố Piply miền nam Thái Lan khoảng đầu năm 1669)[76]; Gioan Văn Huệ và Bênêđictô Hiền (Đàng Ngoài được phong chức tại Ajuthia ngày 8.6.1668)[77].

Khi nhận định về sự chọn lựa mang tính “hiệp hành” giữa “hai gia đình truyền giáo” là Hội Thừa sai Hải ngoại và Dòng Tên, cố linh mục Nguyễn Hữu Trọng đã để lại những nhận định chuẩn xác: “Các linh mục Việt Nam đầu tiên đã được các linh mục Hội Thừa sai Hải ngoại tuyển chọn trong số thầy giảng do các cha Dòng Tên đào tạo. Như vậy, họ tạo nên mối liên kết giữa hai gia đình truyền giáo đã đóng góp nhiều nhất cho việc xây dựng Giáo hội Việt Nam”[78].

1.2. Thế hệ linh mục tiên khởi Việt Nam: kết quả của tuyển lựa và đào tạo nghiêm túc

Vừa được hướng dẫn bởi các chỉ thị rõ ràng và chi tiết về việc đào tạo hàng linh mục bản xứ của Huấn Quyền Hội thánh qua Huấn thị 1659 của Thánh Bộ truyền bá đức tin, cùng với “kim chỉ nam Monita” còn chưa ráo mực và qua bước chuẩn bị cuối cùng là chủng viện thánh Giuse Ajuthia, chắc chắn việc tuyển lựa và đào tạo ứng viên lên thánh chức linh mục của Đức cha Lambert và các cộng sự viên của ngài không thể “nóng vội” hay “sơ sài” mang tính đối phó, mà phải hết sức nghiêm túc và cẩn trọng. Hơn nữa, tất cả các ứng viên lên chức linh mục trong giai đoạn đầu tiên này đều xuất thân từ “lò đào tạo” căn bản của Dòng Tên (thầy giảng) và trải qua môi trường mục vụ đầy thách đố của bách hại. Điều này đã được chứng minh qua chính những chứng từ của Đức cha Lambert, các linh mục đại diện của ngài và cả các tín hữu Việt Nam đương thời, khi đề cập đến thế hệ linh mục Việt Nam đầu tiên.

1.2.1. Chứng từ của Đức cha Lambert về các linh mục tiên khởi Việt Nam

- Đức cha Lambert nhận xét về thầy Giuse Trang, linh mục đầu tiên của hàng giáo sĩ Việt Nam: “Ngày cuối tháng 3, vọng lễ Phục sinh (1668), hai thầy chủng sinh ở tình trạng được phong chức đã được chịu chức linh mục “sub titulo missionum” (dưới danh hiệu thuộc miền truyền giáo). Một thầy tên Giuse, 28 hoặc 29 tuổi, thầy giảng người Đàng Trong, được cha Hainques gửi đến để được thụ phong. Còn thầy kia là Francois Perez, con trai của một người Bồ Đào Nha gốc Negapatan trên bờ biển Coromandel, 24 hoặc 25 tuổi. Hai thầy này được tiếng là đạo đức và sống siêu thoát. Cha Giuse đã được vinh dự chịu nhiều đòn roi trong các nhà tù Đàng Trong, vì người ta bắt gặp ngài giúp đỡ các tín hữu dũng cảm đang bị giam giữ trong các nơi đó…”