Thành lập hàng Giáo phẩm tiếp nối tinh thần của Đức Cha Lambert

Thứ năm - 13/04/2023 09:24      Số lượt xem: 475

Ngoài việc thành lập Dòng Mến Thánh Giá ngày 19.02.1670, việc thiết lập đặt nền móng bền vững cho Tòa nhà Giáo hội Việt Nam là việc thiết lập Hàng giáo sĩ bản xứ, để từ đó, Hàng Giáo phẩm của Giáo hội Công giáo Việt Nam được thành lập, đây là công trình chính yếu và mang tính bền vững cho công cuộc truyền giáo và xây dựng Giáo hội Việt Nam.

2
Đức cha Pierre Lambert de la Motte (1624-1679)

DẪN NHẬP

Giáo hội Công giáo Việt Nam đang tiến hành Hồ sơ xin phong thánh cho Hai Vị Tôi Tớ Chúa: Đức cha Pierre Lambert de la Motte và Đức cha François Pallu[1]. Ngày 15.06.2022 vừa qua, tại Trung tâm Mục vụ Tổng Giáo phận Sài Gòn, đã diễn ra nghi thức đón nhận Di Cốt và lễ giỗ 343 năm, ngày Đức cha Lambert được Chúa gọi về với Ngài. Hiện tại, Di Cốt của Vị Tôi Tớ Chúa được đặt tại Nhà nguyện cổ Tiểu chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn để cho mọi người đến kính viếng và cầu nguyện[2]. Hai vị Giám mục tiên khởi của Giáo hội tại Việt Nam đã để lại nhiều công trình bền vững cho Giáo hội Công giáo Việt Nam đến ngày nay, cách đặc biệt, là Đức cha Pierre Lambert de la Motte[3], người kiến tạo và thiết lập Hàng giáo sĩ bản xứ Việt Nam.
 
Ngoài việc thành lập Dòng Mến Thánh Giá ngày 19.02.1670, việc thiết lập đặt nền móng bền vững cho Tòa nhà Giáo hội Việt Nam là việc thiết lập Hàng giáo sĩ bản xứ, để từ đó, Hàng Giáo phẩm của Giáo hội Công giáo Việt Nam được thành lập, đây là công trình chính yếu và mang tính bền vững cho công cuộc truyền giáo và xây dựng Giáo hội Việt Nam. Chính Đức thánh cha Alexandre VII với Tông sắc Super Cathedram và của Bộ Truyền giáo qua văn kiện Instructions 1659 đã định cách rõ ràng cho công việc rất hệ trọng này. Với Tông sắc Super Cathedram, Đức Alexandre VII viết: “Để cho việc phong chức linh mục cho người bản xứ được dễ dàng hơn và để cho đạo Công giáo được thiết lập cách vững chắc hơn, với sự chúc lành của Thiên Chúa, với uy tín và nội dung của sắc lệnh này, Ta cho phép và ban quyền cho Hiền huynh, với tư cách là Đại diện Tông tòa, chỉ trong vòng bảy năm, được miễn trừ cho các giáo sĩ nói trên trong Giáo phận của Hiền huynh không cần phải hiểu biết tiếng Latinh, miễn là họ phải biết đọc tiếng Latinh và hiểu biết những giải thích theo Giáo luật về Thánh lễ và về các nghi thức đổi với việc cử hành các Bí tích trong Giáo hội. Trong những điều kiện trên, những giáo sĩ địa phương sẽ có thể được tiến chức vào mọi chức thánh, kể cả chức Giám mục”. Với văn kiện Instructions 1659, Bộ Truyền giáo viết: “Lý do chính thúc đẩy Thánh bộ đã cử Chư huynh đến các xứ ấy với chức vụ Giám mục, là để Chư huynh, bằng mọi phương thức có thể, lo đảm trách việc giáo dục thanh niên, giúp họ đủ khả năng nhận lãnh chức linh mục. Chư huynh sẽ phong chức cho họ và cử họ đi khắp miền rộng lớn ấy, mỗi người làm việc trong quốc gia của mình; ở đó họ sẽ hết lòng phụng sự đạo Chúa nhờ Chư huynh ân cần chăm sóc. Vậy Chư huynh hãy luôn đặt trước mắt mục đích này là tuỳ sức có thể, hãy làm thế nào để đưa dẫn được nhiều người và là những tâm hồn có nhiều khả năng đạt đến chức thánh, đào tạo và huấn luyện họ, rồi truyền chức linh mục khi họ đã sẵn sàng”[4] Khi đề cập đến vấn đề tấn phong Giám mục cho người bản xứ, Huấn thị năm 1659 viết: “Trong sổ những người mà Chư huynh đã truyền chức linh mục, sẽ có những người xứng đáng được đề cử lên chức Giám mục. Tuyệt đối cấm ngặt Chư huynh không được ban chức cao trọng đó cho một người nào, nhưng hãy báo cáo cho Thánh bộ biết rõ danh tánh, đức độ, tuổi tác của họ, cũng như những chi tiết cần thiết khác như: nơi chon Chư huynh có thể tấn phong Giám mục cho họ, Giáo phận Chư huynh có thể trao cho họ cai quản và nhiều vấn đề khác, sẽ được bàn tới sau này”[5]. Quả vậy, khi đặt nền tảng cho công trình truyền giáo bằng việc thiết lập Hàng giáo sĩ bản xứ Việt Nam, Đức cha Lambert đã đặt nền trên “Đá” vững chắc, góp phần xây dựng “Ngôi nhà Giáo hội Việt Nam” đứng vững và tồn tại trước mọi phong ba, bão táp, để Giáo hội Việt Nam tồn tại, phát triển và trổ sinh nhiều hoa trái, đặc biệt với sự kiện Đức Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII thiết lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam, nhờ đó Giáo hội Việt Nam không ngừng được kiện toàn, lớn mạnh và trưởng thành cho đến hiện tại.
 
Như thế, thiết lập Hàng giáo sĩ bản xứ không chỉ là công trình thiết yếu mang tính cách “sống còn” đối với Giáo hội Việt Nam, đặc biệt trong giai đoạn bách hại đẫm máu, nhưng Đức cha Lambert còn chuẩn bị nền tảng, làm tiền đề cho việc thành lập Hàng Giáo phẩm, đây là hai sự kiện đặc biệt quan trọng có liên hệ chặt chẽ không thể tách rời trong quá trình phát triển và trưởng thành của Giáo hội Việt Nam.
 
Trước hết, [I] chúng ta sẽ thoáng nhìn tổng quát các chặng đường lịch sử của Giáo hội Việt Nam; [II] để trải qua dòng lịch sử ấy, chúng ta sẽ đọc lại bối cảnh lịch sử của tiến trình thành lập Hàng giáo sĩ bản xứ Việt Nam khởi đi từ Đức cha Pierre Lambert de la Motte; [III] và khởi đi từ Hàng giáo sĩ ấy, Hàng Giáo phẩm Giáo hội Công giáo Việt Nam chính thức được Đức Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII thành lập ngày 24.11.1960.
 
I. TỔNG QUÁT DÒNG LỊCH SỬ GIÁO HỘI VIỆT NAM

Tiến trình hình thành và phát triển của Giáo hội Việt Nam từ khởi thủy tạm phân chia với 5 giai đoạn chính yếu:
 
1. Giai đoạn khai phá, tạm tính từ 1533-1659, gồm hai giai đoạn: Giai đoạn mở đường (1533-1614) và giai đoạn xây nền móng (1615-1659).
 
2. Giai đoạn hình thành, từ 1659-1802: được đánh dấu bằng việc thiết lập 2 Giáo phận Tông tòa đầu tiên: Đàng Ngoài (Tonkin) và Đàng Trong (Cochinchine) năm 1659 với hai Giám mục Đại diện Tông tòa: Pierre Lambert de la Motte và François Pallu.
 
3. Giai đoạn thử thách, từ 1802-1886 với cuộc bách hại đẫm máu qua các triều đại Minh Mạng (1820-1841); Thiệu Trị (1841- 1847), Tự Đức (1847-1883) cùng với hai phong trào Văn Thân và Cần Vương.
 
4. Giai đoạn phát triển, từ 1886-1960, được đánh dấu với hòa ước Giáp Thân 1884, đây là thời kỳ đạo Công giáo được sống trong hòa bình và được củng cố lại từ đống đổ nát của thời bách hại, cho đến sự kiện thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam năm 1960.
 
5. Giai đoạn trưởng thành, từ khi Hàng Giáo phẩm Việt Nam được thành lập đến nay[6].
 
Các giai đoạn của dòng lịch sử này làm nên bức tranh toàn cảnh và cũng chính là khung nền cho tiến trình thiết lập Hàng giáo sĩ bản xứ và Hàng Giáo phẩm Việt Nam.
 
II. TIẾN TRÌNH THÀNH LẬP HÀNG GIÁO SĨ BẢN XỨ VIỆT NAM

1. Bối cảnh chính trị - xã hội Việt Nam[7]

Bối cảnh chính trị, xã hội Việt Nam ở thời kỳ công cuộc truyền giáo trước và sau khi thành lập Giáo hội Việt Nam với công trình truyền giáo và cuộc vận động Tòa Thánh của cha Alexandre de Rhodes, từ đó đưa đến việc hai vị giám mục Đại diện Tông tòa tiên khởi: Pierre Lambert de la Motte và François Pallu, đó là thời Nhà hậu Lê. Chính trị xã hội thời kỳ này rất bất ổn, tình trạng tranh giành quyền lực, nhiều cuộc tranh chấp, lật đổ, chiếm đoạt ngai vàng, chế độ quân chủ phong kiến suy đồi. Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi Nhà Lê, lập nên triều Mạc. Một tướng lĩnh của nhà Lê là Nguyễn Kim với chủ trương “Phò Lê-diệt Mạc” đã đánh chiếm vùng Thanh Hóa, Nghệ An, Vạn Lại, lập triều “Lê Trung Hưng”, đưa đến tình trạng Bắc triều - Nam triều[8].
 
Năm 1545, Nguyễn Kim qua đời, hai người con trai của ông là Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng còn bé, quyền hành tạm thời trao vào tay cho Trịnh Kiểm là con rể của Nguyễn Kim. Với tham vọng quyền bính, Trịnh Kiểm tìm cách thâu tóm quyền lực, Nguyễn Uông bị giết hại bởi anh rể Trịnh Kiểm. Nguyễn Hoàng lo sợ, nên vận động xin vào trấn thủ đất Thuận Hóa và từng bước xây dựng lực lượng riêng. Dần dần, Trịnh-Nguyễn trở thành hai thế lực thù địch và chiến tranh giữa anh em cùng một nhà liên tiếp xảy ra suốt gần nửa thế kỷ, với 7 trận đánh lớn vào những năm 1627, 1630, 1643, 1648, 1655, 1661, 1672, nhưng bất phân thắng bại. Cuối cùng, đất nước bị chia đôi thành hai vương quốc: Đàng Ngoài (Tonkin) thuộc quyền các Chúa Trịnh và Đàng Trong (Cochichine) thuộc các Chúa Nguyễn. Sông Gianh (Linh Giang) được chọn làm ranh giới. Chính với bối cảnh chính trị xã hội này, Hai Giáo phận Đàng Ngoài và Đàng Trong được thành lập sau này.
 
 
2. Cha Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) với công cuộc truyền giáo và việc thành lập Hội Thầy giảng

2.1. Hoạt động truyền giáo của cha Alexandre de Rhodes

Ngày 18.01.1615, đánh dấu sự hiện diện của các thừa sai Dòng Tên cho công cuộc truyền giáo ở Việt Nam, khởi đi từ Hội An - Quảng Nam, với cha Francesco Buzomi. Ngày 07.12.1624, cha Alexandre de Rhodes lần đầu tiên đến Việt Nam tại Đàng Trong; Ngày 19.03.1627, ngài bắt đầu cuộc hành trình truyền giáo tại Đàng Ngoài đến tháng 05.1630. Tại Đàng Ngoài, năm 1629, cha Đắc Lộ bắt đầu công việc lập Hội Thầy giảng[9]; Từ tháng 02.1640 - 03.07.1645, cha Đắc Lộ trở lại hoạt động truyền giáo tại Đàng Trong; Ngày 20.12.1645, từ Macao, cha Đắc Lộ xuống tàu đi về châu Âu và từ ngày 27.06.1649 đến năm 1654 ngài ra sức vận động xin Tòa thánh gởi Giám mục đến Việt Nam; Năm 1655, cha Đắc Lộ được bề trên Dòng Tên cử đi truyền giáo tại Ba Tư (Iran) và ngài qua đời ngày 05.11.1660, tại Ispahan[10].
  
2.2. Thành lập Hội Thầy giảng

Trước hết, về tên gọi, các tài liệu lịch sử hiện nay chưa có sự thống nhất cách gọi tên đối với tổ chức đang được nói đến. Tùy mục đích sử gia nhắm đến mà có những tên gọi: “Tu Hội Thầy giảng”[11], hay “Tổ chức Thầy giảng”[12] hoặc “Tổ chức Giáo lý viên”[13]?... Nhưng nhiều tài liệu khác gọi là Hội Thầy giảng. Chúng tôi tạm sử dụng tên gọi này theo cách gọi của phần đông các tác giả[14]. Hội Thầy giảng được chính thức thành lập do cha Alexandre de Rhodes, nhằm đặt “Nhóm cộng tác viên” này vào một hệ thống tổ chức, dựa trên khuôn mẫu đời sống của tu sĩ Dòng Tên với 3 lời khấn hứa. Tại Đàng Ngoài, Hội Thầy giảng với tiến trình thành lập vào năm 1629, với các Thầy giảng đầu tiên: Phanxicô Đức, Anrê Tri, Inhaxiô Nhuận[15]. Khi biết mình sẽ bị Chúa Trịnh trục xuất vào tháng 05.1630, tại Kẻ Chợ, trong thánh lễ cuối cùng ngày 27.04.1630, cha Đắc Lộ đã tổ chức cho 4 thầy: Phanxicô Đức, Anrê Tri, Inhaxiô Nhuận và Antôn tuyên khấn trước cộng đoàn ba điều: (1) Sống độc thân, không kết hôn để dâng hiến cho sứ vụ tông đồ truyền giáo và cho đến khi có các thừa sai trở lại; (2) Sống khó nghèo, để làm của chung tất cả những tặng phẩm giáo dân đem đến để trợ cấp các thầy; (3) Vâng phục các thừa sai hoặc người đại diện trong việc truyền giáo, mở mang Nước Chúa[16]. Mục đích ban đầu khi thành lập Hội Thầy giảng nhằm đào tạo các thừa sai người Việt, để truyền giáo cho người Việt. Bên cạnh đó, các thầy phụ giúp các thừa sai trong công tác mục vụ, hay coi sóc, mở rộng và thiết lập các cộng đoàn tín hữu mới khi các thừa sai bị trục xuất.
 
Về cơ cấu tổ chức[17], ba bậc Thầy giảng gồm: Tập sinh, là những người đang tập sự được gọi là Chú[18]; bậc Khấn tạm với những người được cử đi hoạt động ở các họ đạo, nhưng chưa khấn trọn, được gọi là các Kẻ văn hay Kẻ giảng[19]; bậc Khấn trọn, là những thầy đã trải qua sát hạch về đức hạnh, học vấn, kiến thức và được tuyên khấn long trọng với ba lời khấn, họ chính thức được gọi là Thầy - Thầy giảng. Các thầy sống chung trong một nhà, có một thầy đứng đầu[20] và được huấn luyện bởi các thừa sai Dòng Tên. Buổi sáng với giờ suy gẫm, thánh lễ, các giờ kinh, nghe đọc truyện về vị thánh mừng kính hôm ấy và trong ngày với các giờ học tập, đọc sách thiêng liêng, làm việc chung, đi thăm viếng giáo dân...[21]
 
Chính Hội Thầy giảng này đã đóng góp rất nhiều thành quả cho công cuộc truyền giáo tại Việt Nam, nhất là khi thiếu vắng các thừa sai do việc cấm cách, bách hại. Đặc biệt Hội Thầy giảng được xem như tiền chủng viện, là cái nôi, là nền tảng khởi đầu. Chính cha Alexandre de Rhodes đã giới thiệu các thầy giảng với Bộ truyền giáo, sau đó, Đức cha Pierre Lambert de la Motte bắt đầu tiến trình thiết lập Hàng giáo sĩ bản xứ Việt Nam qua việc phong chức cho các linh mục Việt Nam là các thầy giảng: Giuse Trang, Luca Bền, Gioan Huệ, Bênêđictô Hiền.. Trong giáo trình Lịch sử Giáo hội Việt Nam, được soạn cho Đại Chủng viện Sài Gòn, cha Augustinô Nguyễn Văn Trinh đã xác quyết: “Tất cả các linh mục Việt Nam đầu tiên đều được chọn trong số các thầy giảng”[22].
 
2.3. Cuộc vận động của cha Alexandre de Rhodes với Tòa Thánh

Trước khi nói đến cuộc vận động của cha Đắc Lộ dẫn đến việc Tòa thánh bổ nhiệm hai Giám mục đến Việt Nam cho mục đích thiết lập Hàng giáo sĩ bản xứ, chúng ta cần quay ngược dòng thời gian với những vấn đề truyền giáo liên quan đến Quyền bảo hộ của Bồ Đào Nha tại châu Á, ảnh hưởng đến việc bổ nhiệm Giám mục và phong chức linh mục cho người bản xứ.
 
Khi đề cập đến vấn đề này, sử gia A. Brou trong bài “Les origines du clergé dans l'Inde. Le clergé goais” đã viết: “Việc chậm trễ trong công việc thiết lập Hàng giáo sĩ và Hàng Giáo phẩm ở đây hơi bất thường. Không nói đến những thế kỷ đầu tiên mà Tân giám mục tách ra từ giám mục cũ để lập địa phận, hầu như không theo một hình thức nào cả. Nhưng ngay cả trong thời phát kiến địa lý này, việc sai phái các Giám mục đến các thuộc địa, cũng chỉ từ 10 đến 20 là cùng, mà có khi lại còn sớm hơn. Những người Tây Ban Nha đến Philippines từ năm 1568, thì vào năm 1581, Manila đã có Giám mục. Còn về phần Bồ Đào Nha, chúng ta không biết có lý do gì đưa đến sự chậm trễ này. Quần đảo Acores được khám phá từ năm 1432, nhưng chỉ có Giám mục thuộc Angra vào 100 năm sau, tức năm 1534. Cũng năm đó, địa phận Sao-Thomé, bao gồm Angola và Congo chỉ được thành lập sau 40 năm khai phá. Braxin cũng phải mất 50 năm mới có được một Giám mục ở San Salvador (1550); trong khi ở Saint Domingue đã có Giám mục từ năm 1520; Cuba từ năm 1525; Mexicô từ năm 1527. Đổi với quyền bảo hộ Bồ Đào Nha, xem ra, người ta không vội vã gì ở vùng truyền giáo Á châu. Những linh mục đầu tiên đến châu Á từ năm 1501 Goa bị chinh phục và trở thành trung tâm vào năm 1510. Lẽ ra, phải thiết đặt nơi đây một Giám mục, nhưng Lisboa tỏ ra dửng dưng. Việc bổ nhiệm Giám mục nơi đây chỉ được quyết định vào năm 1521, nhưng việc tấn phong chỉ được thực hiện 11 năm sau, tức năm 1532 và ngài chết trước khi lên đường đến Giáo phận Goa. Phải chờ đến 5 năm sau, tức năm 1537, tu sĩ dòng Phanxicô Jean d'Albuquerque mới đáp tàu lên đường và năm sau đó, Goa mới có Giám mục của mình. Ba năm sau đó mới có chủng viện đào tạo linh mục”[23].
 
Chính do tình trạng này, thánh Phanxicô trong công cuộc truyền giáo cho Ấn Độ và Nhật Bản đã phải viết cho vua Jean III của Bồ Đào Nha về trách nhiệm truyền giáo theo quy định của Quyền bảo hộ, thậm chí, thánh Phanxicô còn đe dọa nhà vua trước tòa án của Thiên Chúa. Thánh nhân viết: “Xin đức vua đừng do dự cũng đừng dửng dưng một ngày nào nữa. Mọi sự may mắn bây giờ đã là chậm trễ lắm rồi... gần như tôi nghe biết bao nhiêu tiếng kêu từ lòng đất Ấn Độ vang lên tới trời để buộc tội đức vua vì đã hành động quá keo kiệt đổi với miền đất thuộc địa này, khi mà vùng đất này đã mang lại đầy ứ trong kho tàng của vua, nhưng vua chỉ ban cho một phần rất nhỏ cho nhu cầu tôn giáo và tinh thần quá lớn lao”. Với tất cả lòng nhiệt thành, năm 1549, thánh Phanxicô viết cho vua Bồ Đào Nha những lời đầy cay đắng: “Kinh nghiệm đã dạy cho hạ thần là, đức vua không có đủ trách nhiệm và không thi hành đủ quyền lực để làm phát triển niềm tin ở Ấn Độ, chỉ vì ngài chỉ biết thâu tóm và chiếm hữu mọi sự giàu có của vùng đất Ấn Độ này”[24].
 
Chính từ những kinh nghiệm trên đây, với lòng yêu mến, gắn bó cách sâu xa dành cho các tín hữu Đàng Trong và Đàng Ngoài mà cha Alexandre de Rhodes đã thổ lộ: “Đó là ngày mồng 03.7.1645, thân xác tôi rời bỏ Đàng Trong, nhưng linh hồn tôi thì không, cả Đàng Ngoài cũng không kém. Thật ra, cả hồn lẫn xác tôi đều ở cả hai nơi và tôi không nghĩ tôi có thể rời bỏ mãi được”[25]. Sau khi bị trục xuất ra khỏi Đàng Trong, cha Đắc Lộ đã hoạt động tích cực và đem lại hiệu quả hơn cho Giáo hội Việt Nam, bằng cách ra sức vận động tại Rôma, từ năm 1649-1654, với nhiều Thỉnh nguyện thư đệ trình lên Đức Thánh cha Innocentê X và Bộ Truyền giáo, để xin gởi Giám mục đến Việt Nam cho mục đích quan trọng và “mang tính sống còn cho Giáo hội truyền giáo còn non trẻ và bị bách hại tại Việt Nam” là lo phong chức linh mục cho người bản xứ:
 
- Thỉnh nguyện thư ngày 02.08.1650[26], gởi lên Thánh bộ Truyền giáo. Ngoài ra, còn có hai thỉnh nguyện thư khác được gởi lên Đức Innôcentê X vào tháng 3.1651 và tháng 5.1652. Từng bước, cha Đắc Lộ trình bày cho Tòa thánh thấy nhu cầu của Giáo hội tại Việt Nam, với khoảng 200.000 tín hữu và mỗi năm có thể tăng thêm 15.000 người. Nhưng chưa ai được chịu phép Thêm sức, nhiều người chết mà không được chịu các Bí tích cuối cùng. Thêm vào đó, là cuộc bách hại của chính quyền, và đã có nhiều người được phúc tử đạo. Để giúp đỡ một Giáo hội như vậy, lẽ ra phải có từ 300 đến 400 linh mục cho nhu cầu mục vụ và truyền giáo. Nhưng số các thừa sai để cử đi là không thể. Hơn nữa, bối cảnh chính trị, xã hội và cuộc bách hại đạo ở cả hai vùng Đàng Trong - Đàng Ngoài rất khốc liệt. Trong Thỉnh nguyện thư ngày 02.08.1650, cha Đắc Lộ viết: “Chúng tôi có lý do để sợ rằng, sẽ xảy ra ở Giáo hội tại Annam, điều đã xảy ra tại Giáo hội Nhật Bản [...] khi các thừa sai nước ngoài bị săn đuổi”.
 
- Thỉnh nguyện thư ngày 04.07.1651[27], cha Đắc Lộ so sánh Giáo hội Việt Nam với các vùng miền khác như: Giáo hội Néo-Césarée có một Giám mục cho 17.000 tín hữu; Giáo hội Maronites tại Libanô có một Tòa Thượng phụ và 12 Giám mục cho 100.000 tín hữu; Giáo hội Arménie có một Giám mục cho 1.000 kitô hữu, trong khi đó, tại Việt Nam, con số các tín hữu khoảng 300.000 người, nhưng chưa có một Giám mục nào. Những so sánh này xem ra được Bộ truyền giáo đồng tình. Bộ truyền giáo đề nghị cha Đắc Lộ gởi Thỉnh nguyện thư lên Đức Innôcentê X, để xin Đức thánh cha thiết lập một tòa Thượng phụ[28] gởi đến Việt Nam 2 hoặc 3 Tổng Giám mục, 12 Giám mục. Nhưng đề nghị này đã không được chấp thuận trong cuộc họp của Đức Innôcentê X với Bộ Truyền giáo ngày 05.03.1652.
 
- Thỉnh nguyện thư ngày 06.05.1652[29], lần này, cha Đắc Lộ chỉ xin Tòa thánh gởi đến Việt Nam một Giám mục, để phong chức linh mục cho các thầy giảng. Cuối cùng, lời thỉnh cầu này được Đức Innôcentê X chấp nhận.
 
Dù đạt được thành công bước đầu trong cuộc vận động, nhưng vẫn còn nhiều khó khăn, phức tạp. Sau khi chấp nhận gởi Giám mục đến Việt Nam, trước hết, Tòa thánh đề nghị cha Đắc Lộ làm Giám mục cho Việt Nam, nhưng điều này không khả thi, vì phải theo Hiến luật của Dòng Tên và vì Dòng Tên đang làm việc cho Quyền bảo hộ Bồ Đào Nha. Do đó, để tiếp tục công việc, cha Đắc Lộ được trao nhiệm vụ đi tìm ứng viên Giám mục và cả nguồn tài chính cho dự án này. Trải qua nhiều khó khăn, từ các mối liên hệ, nhất là với Hiệp hội Thánh Thể, Nhóm “Bons Amis”, danh sách các ứng viên từng bước được chọn, được gởi lên Bộ truyền giáo và được Đức sứ thần Tòa thánh Nicolas Bagni tại Paris tiến hành điều tra theo Giáo luật. Ngày 29.07.1658, Đức thánh cha Alexandre VII đã công bố Tông sắc Apostolatus Officium, chọn cha Pierre Lambert de la Motte làm Giám mục hiệu tòa Béryte và cha François Pallu, Giám mục hiệu tòa Héliopolis[30]. Ngày 17.11.1658, Đức cha Pallu được Đức Hồng y Tổng trưởng Bộ truyền giáo Antonio Barberini tấn phong Giám mục tại Đền thờ Thánh Phêrô. Ngày 09.9.1659, qua Tông sắc Super Cathedram[31], Đức thánh cha Alexandre VII quyết định thành lập hai Giáo phận Tông tòa đầu tiên tại Việt Nam: Đàng Trong và Đàng Ngoài[32] theo đó, Đức cha Pierre Lambert de la Motte được bổ nhiệm làm Giám mục đại diện Tông tòa Giáo phận Đàng Trong và Đức cha François Pallu, Giáo phận Đàng Ngoài. Ngày 11.6.1660, cha Pierre Lambert được Đức Tổng Giám mục Vitor Le Bouthilier, Tổng Giám mục Giáo phận Tours tấn phong Giám mục tại nguyện đường Dòng Đức Mẹ đi Thăm viếng, ở Paris[33].
 
  
3. Đức cha Pierre Lambert de la Motte với công trình thiết lập Hàng Giáo sĩ bản xứ Việt Nam

Ngày 27.11.1660, Đức cha Lambert lên đường đi nhận sứ vụ Giám mục Đại diện Tông tòa Giáo phận Đàng Trong. Tháp tùng với ngài có hai vị thừa sai: cha Jacques Bourges[34] và François Deydier[35].
 
 Từ Marseille[36], trải qua cuộc hành trình gian khó, ngày 22.8.1662[37], Đức cha Lambert đặt chân đến Ayutthaya là kinh đô của Xiêm La (Thái Lan) lúc bấy giờ. Do rất nhiều khó khăn về chính trị, bách hại tôn giáo ở Trung Hoa và Việt Nam, dù đã tìm nhiều đường và nhiều cách thế, nhưng Đức cha François Pallu và Lambert de la Motte không thể trực tiếp đến Giáo phận được Tòa thánh trao phó và Ayutthaya trở thành như là trung tâm truyền giáo cho các Giáo phận Đàng Trong và Đàng Ngoài.
 
 Cùng với Đức cha François Pallu, hai Giám mục đại diện Tông tòa đầu tiên của Giáo hội Việt Nam cũng là hai vị đồng sáng lập Chủng viện thừa sai và Hội Thừa sai Paris (La Société des Missions Étrangères de Paris - MEP).
 
 Ngày 27.01.1664, Đức cha Pallu đến Ayutthaya cùng với bốn linh mục gồm cha Louis Laneau, Chevreuil, Hainques, Brindeau[39] và một giáo dân Philippe de Chameson-Foisy[40].
 
 Ngay khi Đức cha François vừa đến vùng truyền giáo, ngày 29.02.1664, hai Giám mục, cùng với các thừa sai tổ chức ngay Công nghị đầu tiên của Giáo hội Việt Nam tại Ayutthaya[42], đây là công việc rất quan trọng, không chỉ vạch ra đường hướng cho hoạt động truyền giáo bằng cách cụ thể hóa văn kiện: Instructions 1659 - “Huấn thị năm 1659”[43] mà Thánh bộ Truyền giáo đã trao và Chỉ thị cho hai Đức cha thực hiện.
 
Công nghị này còn đặt nền tảng vững chắc cho công cuộc truyền giáo tại Đàng Trong, Đàng Ngoài, Trung Hoa và Thái Lan[45]. Công nghị cho ra đời tập tài liệu: “Monita ad Missionarios: Instructions aux Missionnaires”[46] - đã được Tòa Giám mục Kontum dịch sang tiếng Việt với tựa đề: '“Nhắn nhủ các Thừa sai ”[47], đây được xem như ‘Kim chỉ nam' cho các nhà truyền giáo tại Á Đông và nhiều nơi trên thế giới. Công nghị cũng quyết định thành lập Chủng viện cho mục đích đào tạo và thành lập Hàng Giáo sĩ bản xứ cho các Giáo hội địa phương. Do đó, từ rất sớm, sau Công nghị này, Chủng viện đầu tiên của Giáo hội Việt Nam được thiết lập tại Ayutthaya. Đức cha Lambert cho biết: “Chúa Quan Phòng đã muốn chúng tôi cùng quyết định nhiều vấn đề vì ích lợi cho công cuộc truyền giáo và để chúng tôi thống nhất với nhau cách sống.”[48]
 
Như chúng ta đã biết, Đức cha Pierre Lambert de la Motte là ông tổ thành lập Dòng Mến Thánh Giá và người ta thường lầm lẫn, chỉ có các nữ tu Mến Thánh Giá mới sống “Linh đạo về Con đường Thánh giá với Đức Giêsu Kitô Chịu Đóng Đinh là đối tượng duy nhất của lòng trí chúng con” mà thôi. Nhưng Đường hướng linh đạo Thập giá này không gì xa lạ và là con đường mà chính Đức Giêsu đã vạch ra cho Giáo hội, cho mọi tín hữu, tất cả các môn đệ phải đi: “Nếu ai muốn theo Thầy, thì hãy từ bỏ mình đi, và vác thập giá mình mà theo Thầy. Vì chưng, ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai đành mất mạng sống mình vì Ta, thì sẽ được sự sống” (Mt 16,24). Chính vì thế, để thực hiện công cuộc truyền giáo chung của Giáo hội tại Đàng Trong - Đàng Ngoài và công cuộc đào tạo Hàng giáo sĩ bản xứ, Con đường Thánh giá là linh đạo, là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt mọi hoạt động và đời sống của Đức cha Lambert. Trong Công nghị Ayutthaya, một ước muốn và là một dự án đã được Đức cha Pierre Lambert de la Motte đề xuất xin Tòa thánh phê chuẩn đó là “Hội dòng Tông đồ” hay cũng có tài liệu gọi là “Hội dòng Thánh Giá”[49] bao gồm Giám mục, linh mục, tu sĩ, giáo dân. Đáng tiếc là “Dự án” này không được Tòa thánh phê chuẩn, có lẽ vì nội quy sống quá khắc khổ: “Sổng theo ba lời khuyên Phúc âm: nghèo khó, khiết tịnh và vâng phục; Sổng từ bỏ, gắn bó tất cả cuộc sổng cho công cuộc truyền giáo vì Nước Trời; Vâng phục hoàn toàn Tòa thánh và Đức Giáo hoàng”[50]. Mục đích của luật sống mà Đức cha Lambert đề ra cho “Hội dòng Tông đồ” này là để huấn luyện các thừa sai cách xứng hợp. Đây không những là khát vọng sống sâu xa của Đức cha Lambert với “Linh đạo Thánh giá” theo con đường của Đức Giêsu Kitô Chịu Đóng Đinh, ngài kể rằng: “Khi tự hỏi, sau này tôi có thể đi tu như những vị tu sĩ không. Lúc ấy, tôi chợt nhận ra rằng: mình không thấy vui thích gia nhập một nhà dòng nào, bởi vì các tu sĩ ấy xem ra không có một đời sổng đủ hoàn thiện. Nhưng trong tâm trí tôi nảy sinh một ý tưởng về một mẫu người phù hợp khác và tôi bị cuốn hút theo mẫu người ấy, đó là những người mang tên Mến Thánh Giá.”[51] Trở lại với bối cảnh chung của lịch sử Giáo hội thời Trung và cận đại, do sự “Liên kết Thế quyền-Thần quyền”, Giáo hội ngày càng chịu ảnh hưởng và chạy theo tinh thần thế tục, quyền bính trần thế, vật chất, vinh quang, hưởng thụ của cải trần thế... Chính với bối cảnh này, giai đoạn cận đại và kéo dài đến Công đồng Vaticano - II, Giáo hội thực hiện liên lỉ cuộc cải cách đời sống. Hơn nữa, ngay tại Ayutthaya, Đức cha Lambert còn chứng kiến các thừa sai thuộc các Hội dòng với lối sống buông thả, phóng túng, chạy theo những nhu cầu vật chất, làm kinh tế, buôn bán như một thương nhân. Đó chính là lý do Công nghị Ayutthaya quyết định thành lập “Hội dòng Tông đồ” với những kỷ luật nghiêm ngặt. Đức cha Pierre Lambert đã họp Công nghị vì ba lý do sau: “Thứ nhất: nói chung, để đối phó với những sự vô trật tự rất lớn và sự vô kỷ luật của các giáo sĩ triều và các hội dòng tu sĩ trong khắp các nơi này; nói riêng, để tránh được các cái xấu trên và tìm ra phương thế để khỏi rơi vào đó; Thứ hai: để giải quyết nhiều trường hợp hệ trọng và khó khăn; Thứ ba: để thiết định một đường lối chung cho các thừa sai hầu tất cả đều giống nhau nhất có thể, về cách hành động bên trong và bên ngoài.”[52]
 
Trong bức thư gửi hoàng thân Conti, khi loan tin về “Hội dòng Tông đồ” được Công nghị Ayutthaya quyết định thành lập, Đức cha Lambert đã mạnh mẽ chê đời sống buông thả của các thừa sai mà ngài đã gặp: “Chính để tránh khỏi mọi bất hạnh khốn nạn như vậy [tức tình trạng buông thả của nhiều thừa sai] mà chúng tôi đã tin là phải họp Công nghị và chúng tôi gửi về Rôma và về Pháp, hầu những ai sẽ tới đây sẽ biết cuộc sống thanh sạch mà bậc sổng của chúng tôi đòi buộc”[53]. Và đây cũng chính là đường hướng linh đạo của Văn kiện Monita Ad Missionarios với 10 chương và 1 phụ lục, thì những chỉ thị trong Instructions 1659 của Bộ truyền giáo cho các thừa sai: Chương 1 và 2 nói về đời sống tu đức cá nhân của mỗi vị thừa sai. Chương 3 và 4, về cách thức làm việc truyền giáo. Vậy chúng ta có thể kết luận rằng: Linh đạo Thập giá, theo con đường và gương mẫu của Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh, đó chính là linh đạo, là đường hướng vẫn luôn mang tính thời sự đối với việc đào tạo không chỉ các thừa sai ngày xưa, mà nhất là trong bối cảnh xã hội, với chủ nghĩa duy vật, tục hóa, hưởng thụ vật chất của con người trong xã hội hiện đại nói chung và nơi hàng giáo sĩ, chủng sinh hiện nay.
 
Năm 1667, các thừa sai Pháp bắt đầu xây dựng Chủng viện Thánh Giuse tại khu đất được vua Thái Lan ban cấp. Nhà Chủng viện với hai tầng, tầng trên bằng gỗ làm nhà nguyện, tầng dưới bằng gạch làm phòng ở cho các thừa sai.
  
Liên quan đến việc thành lập Hàng giáo sĩ bản xứ, văn kiện Instructions 1659 của Bộ truyền giáo viết: “Lý do chính thúc đẩy Thánh bộ cử Chư huynh đến các xứ ấy với chức vụ Giám mục, là để Chư huynh, bằng mọi phương thức có thể, lo đảm trách việc giáo dục thanh niên, giúp họ đủ khả năng nhận lãnh chức linh mục. Chư huynh sẽ phong chức cho họ và cử họ đi khắp miền rộng lớn ấy, mỗi người làm việc trong quốc gia của mình; ở đó họ sẽ hết lòng phụng sự đạo Chúa nhờ Chư huynh ân cần chăm sóc. Vậy Chư huynh hãy luôn đặt trước mắt mục đích này là tuỳ sức có thể, hãy làm thế nào để đưa dẫn được nhiều người và là những tâm hồn có nhiều khả năng đạt đến chức thánh, đào tạo và huấn luyện họ, rồi truyền chức linh mục khi họ đã sẵn sàng”[54].
 
Đức Thánh cha Alexandre VII, qua Tông sắc Super Cathedram còn mở ra một ưu tiên truyền giáo cho việc thiết lập Hàng giáo sĩ bản xứ khi cho phép: “Để cho việc phong chức linh mục cho người bản xứ được dễ dàng hơn và để cho đạo Công giáo được thiết lập cách vững chắc hơn, với sự chúc lành của Thiên Chúa, với uy tín và nội dung của sắc lệnh này, Ta cho phép và ban quyền cho Hiền huynh, với tư cách là Đại diện Tông tòa, chỉ trong vòng bảy năm, được miễn trừ cho các giáo sĩ nói trên trong Giáo phận của Hiền huynh không cần phải hiểu biết tiếng Latinh, miễn là họ phải biết đọc tiếng Latinh và hiểu biết những giải thích theo Giáo luật về Thánh lễ và về các nghi thức đổi với việc cử hành các Bí tích trong Giáo hội. Trong những điều kiện trên, những giáo sĩ địa phương sẽ có thể được tiến chức vào mọi chức thánh, kể cả chức Giám mục.”[55] Đồng thời, Huấn thị 1659 cũng viết: “Trong sổ những người mà Chư huynh đã truyền chức linh mục, sẽ có những người xứng đáng được đề cử lên chức Giám mục. Tuyệt đối cấm ngặt Chư huynh không được ban chức cao trọng đó cho một người nào, nhưng hãy báo cáo cho Thánh bộ biết rõ danh tánh, đức độ, tuổi tác của họ, cũng như những chi tiết cần thiết khác như: nơi chốn Chư huynh có thể tấn phong Giám mục cho họ, Giáo phận Chư huynh có thể trao cho họ cai quản và nhiều vấn đề khác, sẽ được bàn tới sau này”[56]. Ngoài ra, Bộ truyền giáo còn chỉ thị cho các Giám mục Đại diện Tông tòa lo mở trường để trau dồi văn hóa cho người địa phương và khi nói về công tác đào tạo linh mục, Huấn thị viết: “Nếu trong các trường đó, Chư huynh gặp thấy có những thanh thiếu niên tốt lành, đạo đức, nhiệt thành và muốn được tận hiến, có khả năng theo học văn chương và có triển vọng sổng ơn gọi linh mục, Chư huynh hãy nuôi dưỡng lòng nhiệt thành của họ, hãy làm thế nào để họ có thể tiếp tục học tập và không bị lôi cuốn ngả theo đường khác. Sau khi họ đã tiến bộ tốt về văn học lẫn đạo đức, Chư huynh có thể cho họ gia nhập Hàng giáo sĩ, rồi đến thời gian thích hợp, hãy thử thách họ qua nhiều cuộc tĩnh tâm, dò xét ý hướng cũng như ơn gọi đối với đời sống linh mục của họ, rồi sẽ truyền chức thánh cho họ. Sau đó, sẽ cử họ đi rao giảng Tin mừng của Chúa Kitô cho đồng bào của họ”.
 
Với những chỉ thị nêu trên, Chủng viện Ayutthaya đã được xây dựng năm 1667 và khi chưa kịp đào tạo ứng sinh linh mục, như cha Alexandre de Rhodes đã giới thiệu với Bộ truyền giáo trước kia: “đã có sẵn khoảng 100 thầy giảng (Les catéchistes) thuộc Hội Thầy giảng mà tôi đã thành lập cả ở Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài, họ có khả năng để được chọn làm linh mục vì “họ rất xứng đáng với chức linh mục cả về đạo đức lẫn tài trí”. Tại Đàng Trong, “cha Hainques hăng say hoạt động dọc theo miền duyên hải từ Quảng Trị xuống Tuy Hòa, rất kết quả. Cha dạy thần học cho hai thầy giảng Giuse Trang và Luca Bền. Năm 1667, cha gởi hai thầy sang Ayutthaya để được phong linh mục”[57]. Do đó, ngày 31.03.1668, Đức cha Lambert đã phong chức linh mục cho thầy Giuse Trang, 28 tuổi, vị linh mục tiên khởi người Việt Nam thuộc Đàng Trong. Sau đó, thầy Luca Bền, người Đàng Trong cũng được Đức cha Lambert phong chức linh mục năm 1669[58].
 
Ngày 24.02.1668, từ Đàng Ngoài, cha François Deydier đã gởi hai thầy giảng Bênêđictô Hiền và Gioan Huệ đến Ayutthaya và ngày 08.06.1668 Đức cha Lambert đã phong chức linh mục cho hai thầy giảng này[59]. Đầu năm 1673, ngài truyền chức cho vị linh mục thứ ba người Đàng Trong là thầy Manuel Bổn.
 
Tại Đàng Ngoài, cha François Deydier đã quy tụ các thầy giảng và Chủng viện đầu tiên của Giáo hội Việt Nam được tổ chức trong khoang thuyền của các thầy giảng. Con thuyền lênh đênh trên sông nước, cha Deydier và các thầy có thể dễ dàng lẩn tránh sự dòm ngó của các quan chức địa phương, đồng thời ngài có thể đi thăm các họ đạo và lo huấn luyện các thầy, để sau đó, gởi họ sang Ayutthaya để tiếp tục theo học tại Chủng viện và được Đức cha Lambert phong chức linh mục[60].
 
Trong chuyến đi kinh lý tại Đàng Ngoài (1669-1670), Đức cha Lambert đã phong chức linh mục cho 7 thầy giảng là: Martin Mat, Antoine Van Hoc, Philippe Nhum, Simon Kien, Jacques Van Chu và Vite Tri[61]. Đây là lễ truyền chức đầu tiên trên đất Việt Nam và đặc biệt là được cử hành trong một khoang thuyền neo lênh đênh bên bờ sông cái ở Phố Hiến[62].
 
Và khi đi kinh lý tại Đàng Trong lần thứ hai (1675-1676), ngày 21.03.1676, Đức cha Lambert đã truyền chức linh mục cho thầy Louis Đoan (68 tuổi), một nhà nho lỗi lạc người Đàng Trong. Ngày 18.07.1677, tại Ayutthaya, Đức cha Lambert đã phong chức linh mục cho hai thầy giảng người Đàng Ngoài: thầy Philiphê Trà và thầy Đôminicô Hảo. Đây là hai linh mục Việt Nam cuối cùng được nhận chức thánh từ tay Đức cha Lambert. Như vậy, trong cuộc đời truyền giáo, với vai trò là Giám mục, theo định hướng và mục đích của Tòa thánh, Đức cha Pierre Lambert de la Motte là ông tổ thiết lập Hàng giáo sĩ bản xứ Việt Nam, ngài đã truyền chức cho 15 linh mục Việt Nam, gồm 11 người Đàng Ngoài và 4 vị Đàng Trong. Sau khi giải quyết vấn đề cấp bách là thiết lập Hàng giáo sĩ bản xứ cho Giáo hội Việt Nam, Đức cha Pierre Lambert cùng với các thừa sai, các linh mục bản xứ và các thầy giảng đã tổ chức hai Công nghị trên đất Việt Nam để tổ chức Giáo hội với các giáo đoàn cách quy củ, có hệ thống chặt chẽ, nhằm phát triển cách bền vững, nhất là để có thể đương đầu với những khó khăn, thử thách còn tiếp diễn sau này. Đặc biệt, để đặt ra những nguyên tắc nền tảng nhằm hướng dẫn cho các hoạt động truyền giáo[63].
 
Công nghị tại Phố Hiến thuộc Đàng Ngoài ngày 14.02.1670. Đây là lần đầu tiên hệ thống tổ chức Giáo hội Việt Nam được quy định thành luật với 33 điều khoản. Công nghị này chính thức nhận Thánh Giuse là Bổn mạng của Giáo hội Việt Nam. Kết quả của Công nghị này được Đức thánh cha Clemente X phê chuẩn ngày 23.12.1673 bởi sắc lệnh Apostolatus Officium[64]. Công nghị Phố Hiến nhấn mạnh đến các điểm mục vụ quan trọng như: Đào tạo Hàng Giáo sĩ bản xứ; lập Dòng Mến Thánh Giá tại Phố Hiến ngày 19.02.1670; những quy định về vai trò, trách nhiệm các Thừa sai, các Linh mục bản xứ; tổ chức Địa phận, tổ chức các xứ đạo, tổ chức Nhà Đức Chúa Trời và thiết lập quỹ bác ái giúp người nghèo.v.v.[65]
 
Công nghị Đàng Trong tại Faifo - Hội An 15.01.1672. Công nghị cho ra đời bản nội quy với 10 điều khoản, chính yếu dựa trên văn bản luật của Công nghị tại Hội An, Đàng Ngoài, nhưng có một vài thay đổi cho phù hợp tình hình Giáo phận Đàng Trong, hai khoản đầu có nói đến quyền của vị Giám mục Đại diện Tông tòa[66]. Đức cha Lambert cũng thành lập Dòng Mến Thánh Giá Đàng Trong tại An Chỉ vào tháng 12.1671.
 
Qua các Công nghị Ayutthaya 1664, Phố Hiến 1670 và Faifo - Hội An 1672, Đức cha Lambert de la Motte và các thừa sai đã đặt nền tảng vững chắc cho các hoạt động truyền giáo tại Đàng Ngoài và Đàng Trong, nhất là cho việc đào tạo Hàng Giáo sĩ bản xứ. Các ngài đã đưa ra một chương trình hoạt động, chia giáo xứ và ấn định việc đào tạo chủng sinh qua tổ chức nhà Đức Chúa Trời. Với tổ chức này, từ nay, mỗi giáo xứ ổn định thường có một “Tiểu chủng viện” để ươm trồng ơn gọi. Những người có khả năng sẽ được chọn gởi lên Trường Latinh và Trường Lý Đoán để được đào tạo thành linh mục, hoặc vào Trường Kẻ Giảng để trở thành thầy giảng. Chính nhờ đó, Giáo hội Việt Nam không thiếu linh mục, kể cả trong những giai đoạn bách hại đẫm máu, khi các thừa sai bị trục xuất.
 
Không kể các Chủng viện miền tại Ayutthaya-Thái Lan (1665), Pondichery-Ấn Độ (1769-1782), rồi Penang-Malaysia (1807), đã có biết bao linh mục xuất thân từ các Chủng viện trên đất Việt như:
 
+ Miền Nam tại Hà Tiên (1776), rồi Tân Triều-Biên Hòa (1778), Mỹ Tho (1783) và Lái Thiêu (1789-1832)...
 
+ Miền Trung tại Thợ Đúc-Huế (1739-1750), rồi Bình Định- Quy Nhơn với chủng viện ở Dinh Cát (1782), Hòa Ninh (1784), và An Ninh (1801-1820).
 
+ Miền Bắc có Chủng viện Nghệ An (1685), Kẻ Lô (1697), Kiên Lao (1683), Kẻ Đốc-Bắc Ninh (1684), Lục Thủy-Bùi Chu (1686) và Kẻ Bùi (1773).
 
Trong quá trình phát triển, khi mỗi Giáo phận mới được thành lập, lại đi kèm với Chủng viện mới. Vài con số thống kê sau đây cho thấy bước phát triển của Hàng Giáo sĩ Việt Nam qua các giai đoạn: năm 1700: 43 linh mục; năm 1800: 119 linh mục; năm 1900: 385 linh mục; năm 1933: 1.158 linh mục; năm 1963: 2.018 linh mục (393 linh mục dòng)[67]. Sự phát triển này thể hiện rõ nét hơn qua dấu ấn thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam ngày 24.11.1960. Và cho đến hiện tại, tính đến ngày 31.12.2021, theo Thống kê gởi cho Tòa thánh, Giáo hội Việt Nam có 27 Giáo phận; 48 giám mục; 7056 linh mục gồm: 4948 linh mục triều và 1817 linh mục Dòng; số chủng sinh: 4626; số giáo dân: 7.294.713 tín hữu / 101.138.028 dân[68].
 
III. THIẾT LẬP HÀNG GIÁO PHẨM VIỆT NAM

Tiến trình thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam diễn ra trong dòng thời gian khá dài, sau 300 năm (1659-1960) từ khi thành lập Giáo hội Việt Nam và việc Đức Thánh cha Alexandre VII bổ nhiệm hai Giám mục tiên khởi cho Giáo hội Việt Nam. Tiến trình này qua nhiều sự kiện và những yếu tố khá phức tạp trong dòng lịch sử truyền giáo tại Việt Nam nói riêng và tại các vùng truyền giáo trên thế giới nói chung. Tuy nhiên, cho dù phải mất đến 300 năm, vị Giám mục tiên khởi người Việt Nam mới được tấn phong: Đức cha Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng, ngày 11.06.1933 và sự kiện thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam ngày 24.11.1960, nhưng có thể nói rằng, công trình ấy đã được Đức cha Pierre Lambert de la Motte đặt nền từ ban sơ của lịch sử Giáo hội Việt Nam. Trong tập tài liệu: Vie de Mgr La Motte Lambert, Evêque de Béryte, cha Jacques-Charles de Brisacier đã viết về Đức cha Pierre Lambert de la Motte như sau: “Được rửa tội với tên thánh Phêrô. Dường như Thiên Chúa quan phòng đã muốn dùng điềm báo tốt lành đó, để nhấn mạnh việc sau này, khi Tòa thánh gởi các vị Đại diện Tông tòa đến truyền giáo ở Trung Quốc và các xứ lân cận. Đức cha Lambert de La Mottte sẽ là nền móng cho Hàng Giáo phẩm của các Giáo hội mới mẻ đó. Chính ngài sẽ làm cho các dân tộc nhìn nhận và tôn kính quyền bính của Thánh Phêrô”[69].
 
Trong phần này, trước hết, chúng ta sẽ nêu rõ định hướng rất rõ ràng của Tòa thánh ngay từ buổi ban đầu của việc thành lập Giáo hội Việt Nam. Từ định hướng ấy, chúng ta tạm phân chia bối cảnh lịch sử của tiến trình thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam qua hai giai đoạn chuẩn bị: Xa - Gần, trong đó, chúng ta sẽ thấy việc thi hành những chỉ thị của Tòa thánh qua những dự án tấn phong Giám mục Việt Nam, đặc biệt, chúng ta sẽ nhận ra gương mặt của Vị ứng viên Giám mục Việt Nam đầu tiên: cha Giuse Phước (1659-1732); Chúng ta cũng sẽ đề cập đến những can thiệp và những hoạt động của các Vị Giáo hoàng, của Thánh bộ Truyền giáo qua những văn kiện và những hoạt động cụ thể, để dẫn đến sự kiện thiết lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam năm 1960.
 
1. Bối cảnh chuẩn bị xa cho việc thành lập Hàng Giáo phẩm

1.1. Định hướng ban đầu của Tòa thánh

Để xây dựng một Giáo hội địa phương bền vững, mục tiêu đầu tiên của Tòa thánh là tạo lập Hàng Giáo sĩ bản xứ, nhằm từng bước trao chức vụ Giám mục cho các linh mục người bản xứ và tiến tới việc thành lập Hàng Giáo phẩm địa phương. Đối với Giáo hội Việt Nam, định hướng này được thể hiện rõ nét qua cuộc vận động của cha Alexandre de Rhodes tại Rôma từ năm 1645-1654. Cha Đắc Lộ đã xin Tòa thánh gởi các giám mục đến Đàng Trong và Đàng Ngoài, với mục đích chính yếu, là phong chức linh mục cho người bản xứ Việt Nam, cụ thể với các ứng viên thuộc Hội Thầy giảng mà cha Đắc Lộ đã thành lập trước đó[70].
 
Do đó, khi chính thức thành lập Giáo hội Việt Nam và bổ nhiệm hai Giám mục tiên khởi cho Giáo hội Việt Nam qua Tông sắc Super Cathedram của Đức thánh cha Alexandre VII, ngày 09.09.1659, cũng như qua Huấn thị 1659 (Instructions 1659) của Bộ truyền giáo, ngoài mục đích thiết lập Hàng giáo sĩ bản xứ, Đức thánh cha và Tòa thánh đã cho thấy rất rõ ý định không chỉ tạo lập Hàng Giáo sĩ, mà còn nhắm tấn phong Giám mục cho các linh mục Việt Nam. Huấn thị 1659 viết: “Trong sổ những người mà Chư huynh đã truyền chức linh mục, sẽ có những người xứng đáng được đề cử lên chức Giám mục. Tuyệt đối cấm ngặt Chư huynh không được ban chức cao trọng đó cho một người nào, nhưng hãy báo cáo cho Thánh Bộ biết rõ danh tánh, đức độ, tuổi tác của họ, cũng như những chi tiết cần thiết khác như: nơi chon Chư huynh có thể tấn phong Giám mục cho họ, Giáo phận Chư huynh có thể trao cho họ cai quản và nhiều vấn đề khác, sẽ được bàn tới sau này”[71].
 
1.2. Dự án đầu tiên cho việc bổ nhiệm Giám mục Việt Nam

Trước hết, với Đức cha François Pallu. Sau khi nhận sứ vụ Giám mục Đại diện Tông tòa Giáo phận Đàng Ngoài, trong cuộc hành trình đến Giáo phận mới, Đức cha Pallu đã soạn thảo tập tài liệu mang tên: “Góp thêm vào bản Huấn thị” (Additions aux Instructions)[72], gởi cho các thừa sai tại vùng Á Đông, trong đó có đoạn viết: “Chúng ta phải giáo dục và chuẩn bị cho việc gia nhập Hàng Giáo sĩ và chức linh mục, tất cả những ai chúng ta xét là có khả năng; Chúng ta phải tạo lập Hàng Giáo sĩ địa phương và tùy theo sự tự do mà chúng ta có được, họ thi hành tất cả các chức năng tông đồ”[73].
 
Năm 1678, tại Rôma, Đức cha Pallu đã đệ trình lên Đức thánh cha Innôcentê XI (1676-1689) và Thánh bộ truyền giáo một dự án đề cử những giám mục bản xứ. Ngài khẳng định: “Nếu tính cả các linh mục lại vào số những linh mục bản xứ, thì có thể tìm được những ứng viên xứng đáng lãnh nhận chức Giám mục”[74]. Ngài cũng chỉ cho thấy những lợi ích của việc bổ nhiệm các Giám mục bản xứ: “Trước hết, các Giám mục người địa phương có thể đi lại dễ dàng trong xứ sở của mình, họ dễ dàng đến được với các cộng đoàn tín hữu để ban phát các Bí tích, nhất là Bí tích Thêm sức, nhờ đó, niềm tin của các tín hữu sẽ được củng cố; đàng khác, các thầy giảng sẽ được khích lệ để chu toàn bổn phận và họ cũng được khuyến khích để dấn thân trong ơn gọi dâng hiến; Hơn nữa, người bản xứ sẽ thấy sự quý trọng mà Giáo hội làm đối với người đồng hương của họ. Do vậy, đạo Công giáo sẽ được họ đón nhận cách dễ dàng hơn; Cuối cùng, các vua chúa và quan lại địa phương sẽ không còn ngờ vực các thừa sai nước ngoài có ý đồ xâm lược đất nước của họ.”[75] Tuy nhiên, Đức cha Pallu chỉ đề nghị các Giám mục Việt Nam: “Được tấn phong với chức năng là Giám mục hiệu tòa, họ làm việc trong những vùng đất được Giám mục Đại diện Tông tòa phân định và họ buộc phải tuân phục quyền của vị Đại diện Tông tòa[76]. Nhưng quan điểm của Tòa thánh muốn rằng, các Giám mục địa phương sẽ được tấn phong phải là “những Giám mục bản xứ với “năng quyền” bình thường, nghĩa là: “những Giám mục (có năng quyền) thực thụ tại một Tòa Giám mục địa phương, với những trách nhiệm hoàn toàn riêng biệt của một Giáo phận mới, được thành lập bởi Tòa thánh, là những Đại diện Tông tòa, ngang quyền với những Đại diện Tông tòa người châu Âu”[77].
 
1.3. Cha Giuse Phước, ứng viên Giám mục Việt Nam đầu tiên

Ngày 20.05.1686, Tòa thánh yêu cầu Đức cha François Deydier chọn lựa một linh mục bản xứ làm Giám mục phó cho ngài với quyền kế vị: “Episcopo Ascalonensi detur facultas eligendi sibi in coadjutorem inter sacerdotes nationales quem prae caeteris optimum existimaverit”.[78] Năm 1687, Tòa thánh tiếp tục thúc bách hai Đức cha François Deydier (tên Việt là Điển) và Jacques de Bourges (tên Việt là Gia)[79] giới thiệu những ứng viên Giám mục Việt Nam[80]. Chính với định hướng của Tòa thánh như thế, ngay từ cuối thế kỷ 17, đã xuất hiện gương mặt vị ứng viên Giám mục Việt Nam đầu tiên, cha Giuse Phước.
 
Là linh mục bản xứ thuộc nhóm các linh mục đầu tiên của Giáo phận Đàng Ngoài. Sinh năm 1659 tại Thanh Hóa. Thầy Giuse Phước được gởi sang Thái Lan, được đào tạo tại Chủng viện Ayutthaya. “Là một chủng sinh xuất sắc của Thánh bộ và là hương vị ngọt ngào của Chúa Kitô. Thầy khá thông thạo về thần học”[81], được Đức cha Louis Laneau, là Giám đốc chủng viện Ayutthaya hết lời khen ngợi và chính ngài đã phong chức linh mục cho thầy Giuse Phước tại Ayutthaya vào năm 1689. Sau đó, cha Giuse Phước trở lại Đàng Ngoài, phục vụ tại Thanh Hóa năm 1703, Nghệ An năm 1706. Trong cuộc bách hại đạo Công giáo lúc bấy giờ, ngài bị bắt vào tháng 04.1717. Bị kết án tù chung thân ngày 21.05.1717 và chết rũ tù ngày 10.02.1732, hưởng thọ 73 tuổi[82].
 
Năm 1691, chính Đức cha Louis Laneau đề cử cha Giuse Phước lên Đức thánh cha Innôcentê XII (1691-1700) và Thánh bộ Truyền giáo như ứng viên Giám mục Việt Nam đầu tiên, để xin tấn phong cho ngài. Tuy nhiên, nhiều khó khăn do bởi ý kiến trái chiều và tế nhị của một số thừa sai châu Âu lúc bấy giờ[83], do đó, đề nghị tấn phong Giám mục cho cha Giuse Phước bị tranh cãi và kéo dài đến năm 1709 mà không đạt được kết quả. Kể từ thời điểm này, dự án Giám mục cho người Việt Nam không còn được nhắc tới, mãi cho đến thế kỷ XX khi Đức cha Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng được Đức thánh cha Piô XI tấn phong Giám mục ngày 11.06.1933 tại Đền Thánh Phêrô.
 
1.4. Những can thiệp của Tòa thánh

Mặc dù dự án Giám mục cho người Việt Nam không còn được nhắc đến trong một thời gian dài, nhưng Tòa thánh vẫn theo đuổi định hướng này cách xuyên suốt khởi đi từ lúc thành lập Giáo hội Việt Nam. Nhiều văn kiện của các Giáo hoàng, của Bộ Truyền giáo đã mạnh mẽ can thiệp và thúc đẩy việc tạo lập Hàng Giáo sĩ địa phương cho công cuộc truyền giáo và cho mục đích tấn phong Giám mục cho người bản xứ để tiến tới thành lập Hàng Giáo phẩm, đưa Giáo hội tại các vùng truyền giáo đạt đến tuổi trưởng thành thực thụ. Trong phần này, chúng tôi chọn ba văn kiện tiêu biểu của các Giáo hoàng và của Thánh bộ Truyền giáo như sau:
 
a/ Huấn thị Neminem profecto[84]
 
Một trăm tám mươi lăm năm (185) sau khi Huấn thị 1659 được trao cho hai Giám mục đầu tiên, Bộ Truyền giáo cho ra đời Huấn thị Neminem profecto vào năm 1845, qua đó, Bộ này đặc biệt nhấn mạnh đến sự cần thiết phải tạo lập Hàng Giáo sĩ địa phương tại các xứ truyền giáo.
 
Huấn thị Neminem profecto nhắc lại lời của Huấn thị năm 1659 như sau : “Vào năm 1659, Đức Giáo hoàng Alexandre VII đã yêu cầu Bộ Truyền giáo gởi những chỉ thị cho các Đại diện Tông tòa trước khi họ đi đến các xứ Đàng Trong, Đàng Ngoài và Trung Hoa rằng: “Lý do chính khi gửi các Giám mục đến những miền trên là để các Giám mục Đại diện Tông tòa này, cổ gắng bằng tất cả mọi hoạt động và mọi phương tiện, lo giáo dục các thanh niên người bản xứ, để họ có khả năng thi hành chức vụ linh mục; họ sẽ được chính các ngài phong chức và sai đến những vùng đất trong xứ sở bao la đó, để cộng tác vào công trình Kitô giáo, dưới sự điều khiển của các Giám mục Đại diện Tông tòa”.
 
Neminemprofecto cũng nhắc lại ý hướng ban đầu của Tòa thánh, được xác định trong Huấn thị 1659 rằng: “Theo ước nguyện lâu đời của Tòa thánh, các giáo sĩ địa phương phải trở nên những người tự đảm trách tất cả các nhiệm vụ, điều hành mọi hoạt động và sau đó cũng được nhận phẩm chức Giám mục”.
 
b/ Tông thư Maximum Illud[85]
 
 
 
Đức Thánh cha Bênêđictô XV
 
Ngày 31.11.1919, Đức Thánh cha Bênêđictô XV ban hành Tông thư Maximum Illud, trong đó ngài đặc biệt nhấn mạnh đến việc phải thiết lập Hàng Giáo sĩ bản xứ, bằng những lời lẽ khá đanh thép: “Linh mục bản xứ là người có khả năng tuyệt vời để hội nhập chân lý vào các tâm hồn (acclimater la vérité dans les âmes). Các thừa sai nước ngoài không được sử dụng họ duy nhất vào những công tác thấp hèn như trợ tá cho các thừa sai ngoại quốc, nhưng phải liệu sao cho họ có thể đích thân điều khiển các tín hữu của họ. Nhiều dân tộc đã văn minh tiến bộ, đã có được những người tài giỏi trong mọi lãnh vực, chẳng lẽ họ không có được các linh mục và Giám mục để tự điều hành Giáo hội địa phương của họ hay sao?[86]” Đức Bênêđictô XV cũng khiển trách nặng lời một số thừa sai như sau: “Thật đáng thương khi thấy những vị thừa sai không hiểu phẩm chức của mình tới độ, đã lo lắng đặt quê hương trần thế của họ lên trên cả quê hương Nước trời. Họ công khai và nhiệt tâm lo việc phát triển thế lực, danh tiếng và vinh quang đất nước họ, trên mọi lợi ích khác. Những thái độ này đối với việc tông đồ, như một bệnh dịch ghê tởm (comme une peste affreuse).[87]” Ngài còn viết: “Sẽ là tai hoạ nếu người của Tòa thánh đem sức mình ra để thúc đẩy và củng cổ uy tín của mảnh đất quê hương mà người đó đã bỏ lại phía sau, điều đó sẽ dễ dàng dẫn đến quan điểm cho rằng Công giáo là tôn giáo của người ngoại quốc, người cải đạo sang Công giáo là người không còn trung thành với dân tộc của mình, là người phục tùng đòi hỏi và sự thống trị của quyền lực ngoại bang”. Bức Tông thư cũng phê phán sự phân biệt giai cấp, chủng tộc của Giáo hội tại các miền truyền giáo lúc bấy giờ: “Những kẻ coi người bản địa là chủng tộc hạ đẳng hay người có trí tuệ thấp kém là đã phạm sai lầm nghiêm trọng”.
 
c/ Thông điệp Rerum Ecclesiae[88]
 
Ngày 28.02.1926, Đức thánh cha Piô XI đã công bố Thông điệp Rerum Ecclesiae, qua Thông điệp này, vấn đề Hàng Giáo sĩ địa phương được nhấn mạnh cách đặc biệt. Ngài xác định rõ: “[...] phải có Hàng Giáo sĩ địa phương để tự đảm trách Giáo hội của họ”. Ngài loan báo: “đã đến lúc, Giáo hội địa phương phải tự đảm nhận sứ vụ truyền bá Phúc âm”.
 
Qua Thông điệp này, Đức Piô XI đã lấy lại tư tưởng, định hướng và ngay cả từ ngữ của Tông thư Maximum Illud của Đức Bênêđictô XV. Ngỏ lời với các Giám mục Đại diện Tông tòa, những người có trách nhiệm tại các xứ truyền giáo, Đức Piô XI nói: “Trước hết, Ta nhắc lại với quý chư huynh về ích lợi lớn lao của việc thiết lập Hàng Giáo sĩ địa phương. Nếu quý Chư huynh không làm hết sức mình cho công việc này, thì không những Ta coi như sứ vụ tông đồ của quý Chư huynh chưa được chu toàn cách đầy đủ, nhưng quý Chư huynh còn làm chậm trễ hơn nữa tiến trình thành lập và tổ chức Giáo hội tại các xứ truyền giáo này”[89]. Như một nhà tiên tri của thời cuộc, Đức Piô XI đưa ra những tiên báo và lý luận rất sâu sắc như sau: “Quý Chư huynh hãy giả thiết rằng, sau một cuộc chiến tranh hay sau những biến cố chính trị, một vùng đất truyền giáo nào đó được thay đổi chính quyền. Khi ấy, nhà cầm quyền yêu cầu hoặc ra lệnh cho các thừa sai nước ngoài phải ra khỏi xứ sở của họ... Khi ấy, thật là một thảm họa lớn cho Giáo hội, nếu như tại đó không có sẵn một Hàng Giáo sĩ người bản xứ.[90]”.
 
Một cách mạnh mẽ và thẳng thắn, Đức Piô XI đã lên tiếng: “Quý Chư huynh tuyệt đối không thể tiếp tục giam hãm các linh mục địa phương trong tình trạng như những thuộc cấp của mình, chỉ với những thừa tác vụ thấp kém. Quả thật, các vị ấy có cùng một chức linh mục như tất cả Chư huynh và cùng tham dự vào sứ vụ tông đồ hoàn toàn giống như những giáo sĩ Âu châu khác”. “[...] Kinh nghiệm lâu dài minh chứng rằng: người dân ở các khu vực phương Đông và phương Nam xa xôi thường không thấp kém hơn chúng ta, họ có thể đứng ngang hàng với chúng ta, ngay cả trong lĩnh vực trí tuệ[91]”.
 
Thêm vào đó, Đức Thánh cha Piô XII, trong Thông điệp Evangelii Praecones, ngày 02.06.1951 cũng đã minh định rõ ràng: “Giáo hội được phép thành lập Hàng Giáo phẩm tại các địa phương nếu cần thiết. Đây là một phương thức được chấp thuận trong hiện tại... ”[92][93]
 
Với ba văn kiện nêu trên, đặc biệt, với Tông thư Maximum Illud và Thông điệp Rerum Ecclesiae, Tòa thánh đã lên tiếng và can thiệp mạnh mẽ cho sự phát triển của Hàng Giáo sĩ và việc thiết lập Hàng Giáo phẩm tại các địa phương, trong đó có Việt Nam. Xét về nhiều mặt, các văn kiện Maximum Illud và Rerum Ecclesiae chính là đỉnh điểm của một loạt những cuộc cải cách tại các xứ truyền giáo. Qua Tông thư Maximum Illud và Thông điệp Rerum Ecclesiae, Tòa thánh không chỉ phê phán những ràng buộc mang tính chính trị, chủ nghĩa quốc gia và những định kiến về mặt chủng tộc tại các xứ truyền giáo, mà còn công nhận rằng: thay đổi trong Giáo hội Công giáo bên ngoài châu Âu là tất yếu, bởi vì đến một ngày nào đó chế độ thực dân và chiếm giữ thuộc địa sẽ phải sụp đổ. Thấy trước tình hình chính trị xã hội của thế giới, hai vị Giáo hoàng Bênêđictô XV và Piô XI đã đưa ra những dự kiến, các ngài còn lên kế hoạch để chống đỡ cho sự suy tàn của Giáo hội Công giáo do “các thế lực” nắm giữ trong những hoàn cảnh mới. Đức Piô XI khẳng định: “[...] người ngoài Châu Âu sẽ không còn bị hạn chế trong các chức vụ tư tế, và trong một thời gian ngắn sắp tới, họ sẽ trở thành những Giám mục đứng đầu Giáo hội tại các quốc gia của họ”[94]. Tinh thần cải cách qua các văn kiện trên đây như một luồng gió mới, đang thổi vào thế giới Công giáo, đặc biệt tại các xứ truyền giáo; đó còn như là sự thể hiện trước và như là nguồn cội tư tưởng và định chế của Công đồng Vatican II. Thật vậy, qua Sắc lệnh “Ad Gentes” Công đồng Vatican II đã xác quyết: “Xuất phát từ Lời Thiên Chúa, các Giáo hội địa phương phải được phát triển trong cả thế giới, tự mình thụ hưởng những tài năng riêng biệt và mức độ trưởng thành của mình, họ phải có phẩm trật riêng, họp cùng dân tộc trung kiên của họ, phải có những phương tiện tương xứng với tài năng, và cần thiết cho việc khuếch trương một đời sổng công giáo hoàn bị”[95].
 
2. Bước chuẩn bị gần cho việc thiết lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam

Theo định hướng ban đầu, qua những chỉ thị, những tiếng nói can thiệp mạnh mẽ về mặt lý thuyết với các văn kiện, khi thời điểm đã chín mùi, Tòa thánh nhận thấy cần có những hoạt động cụ thể để thực hiện cuộc cải cách Giáo hội tại các xứ truyền giáo, nhắm đến việc bổ nhiệm, trao quyền điều hành Giáo hội cho các Giám mục bản xứ và tiến tới việc thiết lập Hàng Giáo phẩm địa phương. Tại Việt Nam, bước đi đầu tiên của Tòa thánh là thiết lập Tòa Khâm sứ với vị đại diện thường trực của Đức Giáo hoàng và của Tòa thánh, để giám sát và điều hành mọi hoạt động của Giáo hội theo định hướng chung.
 
2.1. Thiết lập Tòa Khâm sứ miền Đông Dương

Trải qua dòng lịch sử truyền giáo tại Việt Nam, đã vài lần Tòa thánh gởi các vị Khâm sai đi kinh lược các cơ sở tại Việt Nam, để nắm bắt tình hình truyền giáo hoặc để giải quyết những khó khăn phát sinh trong công cuộc truyền giáo[96]. Ngày 07.05.1737, Tòa thánh đã bổ nhiệm Đức cha Le Beaume, Giám mục hiệu tòa Halicarnasse làm Khâm sai, đi kinh lược Giáo phận Đàng Trong từ năm 1739-1740[97]. Ngày 26.11.1744, Đức thánh cha Bênêđictô XIV chỉ định Đức cha Hilario Costa di Jesu[98], đi kinh lược Giáo phận Đàng Trong, Cuộc kinh lý bắt đầu từ ngày 19.06.1747 đến 13.07.1747.
 
Năm 1922, Đức Piô XI đã chỉ định Đức cha Henry Lécroart[99], làm Khâm sai đi kinh lược từ ngày 04.11.1922 đến 30.06.1923, để rà soát tình hình các giáo phận tại Đông Dương, đặc biệt về cách tổ chức và chương trình đào tạo tại các Chủng viện, cách riêng tại Việt Nam. Đỉnh cao của chuyến kinh lý là hai cuộc Hội nghị các Giám mục: Đàng Ngoài, tại Phát Diệm với sự hiện diện của 11 Giám mục, từ ngày 04 đến 09.02.1923.
 
Ở Đàng Trong, tại Sài Gòn với sự hiện diện của 7 Giám mục vào ngày 20.06.1923 dưới sự chủ tọa của Đức Khâm sai Henry Lécroart. Những vấn đề lớn được đặt ra tại hai cuộc hội nghị, trong đó đáng
quan tâm là: việc thiết lập Tòa Khâm sứ Miền Đông Dương; Thành lập Hội đồng Giám mục Đông Dương; Vấn đề đào tạo Hàng Giáo sĩ bản xứ và sự bình đẳng giữa các giáo sĩ Âu – Á[100].
 
Cuộc kinh lý đã đem lại nhiều kết quả tốt đẹp cho Giáo hội tại Đông dương như: dự án thiết lập Tòa Khâm sứ tại Đông Dương; Vấn đề bình đẳng giáo sĩ... Hội nghị các Giám mục đã tuyên bố: “Không thể chấp nhận sự trổi vượt về chủng tộc giữa các giáo sĩ. Phải có sự bình đẳng giữa các linh mục Tây phương và Bản xứ, bởi vì, khi lãnh nhận chức linh mục, không ai lãnh nhận nhiều hơn ai”[101]. Tuyên bố này chính là bước hiện thực hóa chỉ thị của Đức Piô XI qua Thông điệp Rerum Ecclesiae: “Quý Chư huynh tuyệt đối không thể tiếp tục giam hãm các linh mục địa phương trong tình trạng như những thuộc cấp của mình, với những tác vụ thấp kém. Quả thật, các vị ấy có cùng một chức linh mục như tất cả Chư huynh và cùng tham dự vào sứ vụ tông đồ hoàn toàn giống như những giáo sĩ Âu châu khác”[102]. Với khuynh hướng chuyển đổi Giáo hội Việt Nam từ một “Giáo hội truyền giáo” - có phần Tây hóa ngay cả tên gọi của các Giáo phận - sang một “Giáo hội dân tộc”, Đức Khâm sai Henry Lécroart đã báo cáo với đề nghị Bộ Truyền giáo đổi tên các Giáo phận Đông Dương theo tên của thành phố có Tòa Giám mục. Đề nghị này được tán thành và Bộ Truyền giáo, với sự chuẩn y của Đức Piô XI, đã ban hành Sắc lệnh đổi tên các Địa phận Miền Đông Dương ngày 03.12.1924[103].
 
Sắc lệnh Đổi Tên Các Địa Phận Miền Đông Dương

Các Giám mục miền Đông Dương trong Hội nghị dưới quyền chủ toạ của Đức cha Henri Lecroart, Giám quản tông Tòa Đông Nam, và Thanh tra Tòa Thánh tại Đông Dương, đã xin Bộ Truyền Giáo đổi tên các địa phận của miền, để từ nay, các địa phận sẽ lấy tên các thành phố có Tòa Giám Mục, thay vì lấy tên theo miền dân sự. Các viên chức cao cấp của Bộ Truyền giáo, sau khi suy nghĩ đắn đo, đã xét nên chấp thuận lời yêu cầu của các vị Giám mục Đông Dương, trong phiên họp ngày 30.6.1924. Do đó:
 
- Địa phận Đông Đàng Ngoài sẽ gọi là Địa phận Hải Phòng (Bắc kỳ).
 
- Địa phận Bắc Đàng Ngoài sẽ gọi là Địa phận Bắc Ninh (Bắc Kỳ)
 
- Địa phận Trung Đàng Ngoài sẽ gọi là Địa phận Bùi Chu (Bắc kỳ)
 
- Địa phận Tây Đàng Ngoài sẽ gọi là Địa phận Hà Nội (Bắc kỳ)
 
- Địa phận Duyên hải Đàng Ngoài sẽ gọi là Địa phận Phát Diệm (Bắc kỳ)
 
- Địa phận Nam Đàng Ngoài sẽ gọi là Địa phận Vinh (Bắc kỳ)
 
- Địa phận Bắc Đàng Trong sẽ gọi là Địa phận Huế (Trung kỳ)
 
- Địa phận Đông Đàng Trong sẽ gọi là Địa phận Quy Nhơn (Trung kỳ)
 
- Địa phận Tây Đàng Trong sẽ gọi là Địa phận Sài Gòn (Nam kỳ)
 
- Địa phận Cao Miên sẽ gọi là Địa phận Nam Vang (Cao Miên)
 
- Địa phận Xiêm La sẽ gọi là Địa phận Bangkok (Xiêm La)
 
- Tên các Địa phận của Lào, Cao Bằng, và Lạng Sơn vẫn giữ y nguyên không thay đổi.
 
Đức Thánh Cha Piô XI, trong buổi triều yết ngày 14.7.1924 đã chuẩn y và ban bố Sắc lệnh này.
 
Làm tại Rôma, Bộ Truyền giáo
 
Ngày lễ thánh Phanxicô Xavier, 03.12.1924
 
Ký tên và Đóng dấu
 
Hồng y G.M. Van Rossum,  
Bộ trưởng
 Tổng Giám mục F. Marchetti-Selvagiani, Thư ký

 
Với các hoạt động của Đức Khâm sai Henry Lécroart cùng với sự vận động của một số nhân vật có thế giá trong Giáo hội và xã hội Việt Nam như: Quan Thượng thư Giuse Nguyễn Hữu Bài, một tín hữu Công giáo nhiệt thành[104], ngày 20.05.1925, Đức thánh cha Piô XI, “vị Giáo hoàng của các xứ truyền giáo”, đã ban hành Tông sắc Ex Officio Supremo, công bố việc thiết lập Tòa Khâm sứ Đông Dương (Delegatio Apostolica Indosinensis), trụ sở đặt tại Việt Nam bao gồm các vùng đất: Việt Nam, Campuchia, Lào, Thái Lan và Chủng viện Pénang ở Malaysia.
 
Sắc lệnh thành lập Tòa Khâm sứ Đông Dương của Đức Giáo hoàng Piô XI
 
Do nhiệm vụ Tông đồ toi cao mà Thiên Chúa đã giao phó cho Ta, Ta đã suy nghĩ nhiều về việc quản trị một cách tốt đẹp hơn những công việc thánh thiện, nhất là trong những miền đất rất xa xôi đổi với trung tâm Công giáo chúng ta (Roma). Suy nghĩ như thế, nên Ta ước mong sứ vụ truyền giáo được phát triển thêm tại vùng đất Đông Dương (Indosinensis regio)[105]. Ta đã bàn tính với các Hồng y lãnh đạo của Thánh bộ Truyền giáo và vừa rồi đã có một cuộc thăm viếng có tính cách Tông tòa trong những miền đất này. Do cuộc thăm viếng này, Ta thấy rằng những nhu cầu thiêng liêng của sứ vụ truyền giáo này thật là đặc biệt, nên cần phải có một sự góp ý rộng rãi.
 
Vì vậy, cho dầu cuộc thăm viếng nói trên cho biết nhiều nhu cầu thiêng liêng, việc thăm dò ý kiến luôn tiếp tục. Để danh xưng Kitô giáo được loan báo cách tường tận trong sứ vụ truyền giáo rất phức tạp và khó khăn này, và được ghi khắc sâu đậm vào thế hệ tương lai, sau khi xin ý kiến các Hồng y lãnh đạo của Thánh bộ Truyền giáo, Ta nghĩ rằng đây là thời gian thích hợp để thành lập một Tòa Khâm sứ Tòa thánh trong những vùng đất này. Bởi thế, cho Danh Thiên Chúa cả sáng và cho phần rỗi của dân chúng Kitô giáo, do Tự sắc (Motu proprio), do sự hiểu biết và suy nghĩ cẩn thận. và dựa trên thẩm quyền Tông đồ mà Thiên Chúa ban cho Ta, Ta quyết định thành lập trên những vùng đất nói trên một Tòa Khâm sứ Tòa thánh mang tên Tòa Khâm sứ Tòa thánh Đông Dương (Apostolica Delagatio Indosinensis); đồng thời, để điều hành Tòa Khâm sứ này, Ta cũng đề cử một Đức Khâm sứ Tòa thánh, có cương vị Giám mục. Ta quy định trong Tông thư này, và mong muốn nội dung của nó luôn được vững bền, hợp pháp, hiệu nghiệm và mang lại những kết quả đầy đủ và trọn vẹn. Đồng thời Ta cũng mong muốn rằng những ai mà Tông thư này có liên quan đến hay đã có thể có liên quan đến, đều chấp hành Tông thư này cách rộng rãi, giờ đây và trong tương lai; nếu sau này có điều gì xảy ra trái nghịch với Tông thư này, do bất cứ ai hay bất cứ thẩm quyền nào một cách ý thức hay vô thức, thì theo nguyên tắc, được xác định và vô giá trị. Tông thư này luôn có giá trị, không quy chế và phẩm trật Tông tòa nào khác hay những điều gì khác có thể đi trái nghịch với Tông thư này.
 
Làm tại Đền thờ Thánh Phêrô, với Ấn Ngư phủ, ngày 20.5.1925, năm thứ 4, triều đại Giáo hoàng của Ta
 
Hồng y P. GASPARRI
 

Ngày 25.05.1925, Đức Piô XI bổ nhiệm Đức Tổng Giám mục Celse Constatino Ayuti làm Khâm sứ thường trực đầu tiên của Tòa thánh tại Việt Nam. Tính từ thời điểm năm 1925 đến 1975, đã có 9 vị Khâm sứ của Tòa thánh làm việc tại Việt Nam, mỗi vị có một sứ mạng đặc biệt tùy từng giai đoạn lịch sử của Giáo hội và xã hội Việt Nam[106]. Khởi đầu, Tòa Khâm sứ được thiết lập, đặt tại Huế. Tòa Khâm sứ đầu tiên được xây dựng tại Phủ Cam, bên cạnh triều đình Huế vào năm 1925 với Đức Khâm sứ Celse Constantino Ajuti (1925-1928).
 
 Năm 1951, Tòa Khâm sứ dời ra Hà Nội và năm 1959 (Đức Khâm sứ John Dooley); Sài Gòn với 5 vị: Giuseppe Caprio (1954-1959), Mario Brini (1959-1961), Salvatore Asta (1962-1964), Angelo Palmas (1964-1969), Henry Lemaĩtre (1969-1975)[107]. Các vị Khâm sứ đã góp phần rất lớn cho việc phát triển của Giáo hội Việt Nam, cho việc xây dựng Hàng giáo sĩ vững mạnh, việc tấn phong Giám mục Việt Nam và cho việc thiết lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam.
 
 2.2 Các Giám mục Việt Nam tiên khởi[108]

Với định hướng chung của Tòa thánh cho các xứ truyền giáo, những cuộc tấn phong giám mục cho Hàng Giáo sĩ bản xứ vào đầu thế kỷ XX này được thực hiện liên tiếp. Trước khi được bổ nhiệm làm Khâm sứ tiên khởi tại Việt Nam, Đức khâm sứ Celse Constantino Ajuti đã là Khâm sứ tại Trung Hoa. Với hoạt động đắc lực của ngài, ngày 28.10.1926, sáu Giám mục của Giáo hội Trung Quốc được Đức Piô XI tấn phong tại Rôma. Tại Việt Nam, rất nhanh chóng, sau 8 năm từ khi thiết lập Tòa khâm sứ, vị Giám mục tiên khởi người Việt Nam được chọn và được Đức thánh cha Piô XI tấn phong tại Đền thờ thánh Phêrô ở Rôma, ngày 11.06.1933.
 
 Liên tiếp sau đó: Đức cha Đaminh Hồ Ngọc Cẩn (1935), Đức cha Phêrô Ngô Đình Thục (1938), Đức cha Gioan Phan Đình Phùng (1940), Đức cha Tađêô Lê Hữu Từ (1945).
 
Kể từ năm 1933, với Đức cha Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng, Tòa thánh đã từng bước chuẩn bị nhân sự Giám mục bản xứ đủ cho việc điều hành Giáo hội Việt Nam. Tính đến thời điểm năm 1959, Giáo hội Việt Nam đã có 13 Giám mục bản xứ và trong số 17 Giáo phận Việt Nam lúc bấy giờ, 10 Giáo phận được cai quản bởi các Giám mục Việt Nam: Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng - Đa Minh Hồ Ngọc Cẩn - Phêrô Ngô Đình Thục - Gioan Phan Đình Phùng - Tađêô Lê Hữu Từ - Đa Minh Hoàng Văn Đoàn - Phêrô Phạm Ngọc Chi - Giuse Maria Trịnh Như Khuê - Giuse Trương Cao Đại - Gioan Bt. Trần Hữu Đức - Phêrô Khuất Văn Tạo - Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền - Phaolô Nguyễn Văn Bình. Vào thời điểm này, Đức cha Phêrô Ngô Đình Thục đã được bầu làm niên trưởng Giám mục. Khi chính thức thành lập Hàng Giáo phẩm ngày 24.11.1960, ngài là Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam và khi ấy, trong số 20 Giáo phận Việt Nam, có 18 Giáo phận được trao quyền điều hành cho các Giám mục Việt Nam[109].
 
3. Thiết lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam

Cho đến thời điểm giữa thế kỷ XX, trải qua dòng lịch sử 300 năm từ khi Giáo hội Việt Nam được thành lập với hai vị Giám mục tiên khởi, nhờ công sức của các Thừa sai, sự quan tâm đặc biệt của Tòa thánh, nhất là với sự khởi đầu và đặt nền móng kiên vững cho Tòa nhà Giáo hội Việt Nam qua việc thiết lập Hàng giáo sĩ bản xứ và Hàng Giáo phẩm Việt Nam. Trên nền tảng ấy, Giáo hội Việt Nam đã có những bước phát triển rất mạnh mẽ và như trong dịp lễ tấn phong cho vị Giám mục người Việt Nam tiên khởi: Đức cha Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng, trong cuộc tiếp kiến sau Đại lễ tấn phong ngày 11.06.1933, Đức Thánh cha Piô XI đã nói: “Giáo hội Annam là con đầu lòng của Giáo hội tại Đông Dương”. Khởi đi từ dấu mốc năm 1933 này, nhiều Giáo phận tại Việt Nam được thành lập và được trao quyền điều hành cho các Giám mục Việt Nam; Tòa Khâm sứ miền Đông Dương đặt trụ sở tại Việt Nam; nhiều hoạt động lớn được tổ chức như Công nghị miền Đông Dương được tổ chức tại Hà Nội năm 1934[110]. Đặc biệt, một sự kiện quan trọng đánh dấu sự trưởng thành đủ của Giáo hội Việt Nam, cách riêng của Hàng giáo sĩ và Hàng Giáo phẩm Việt Nam, để như “dấu ấn” Tòa thánh xác nhận, “đóng ấn” vào Tông sắc thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam, đó là sự kiện Đại hội Thánh Mẫu năm 1959 tại Sài Gòn[111].
 
Năm 1959, vào dịp bế mạc Năm Thánh Mẫu quốc tế, kỷ niệm Bách chu niên Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức (1858-1958) và mừng 300 năm thành lập Giáo hội Việt Nam, các Giám mục quyết định tổ chức Đại hội Thánh Mẫu toàn quốc từ ngày 15.2 đến ngày 18.2.1959. Đây là sự kiện đặc biệt đối với Giáo hội Việt Nam, cách riêng cho việc thành lập Hàng Giáo phẩm.
 
Đại hội là sự thể hiện những nỗ lực, sự chủ động, trưởng thành của các Giám mục, linh mục và giáo dân Việt Nam trong việc lãnh đạo, tổ chức và điều hành. Lúc này, Đại hội hoàn toàn do các Giám mục, linh mục và giáo dân Việt Nam đảm trách. Thành phần ban tổ chức với hai Giám mục Việt Nam đồng Chủ tịch là: Đức cha Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền, Giám mục Sài Gòn và Đức cha Tađêô Lê Hữu Từ, Giám mục Phát Diệm, Giám đốc Trung tâm Công giáo. Các Phó chủ tịch gồm: Đức cha Giuse Trương Cao Đại, cha Giuse Phạm Văn Thiên, cha sở Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn, ông Nguyễn Văn Huyền, Chủ tịch Công giáo Tiến hành Việt Nam, ông Mai Văn Hàm, Phó chủ tịch Công giáo Tiến hành Việt Nam. Ngoài hai Tiểu ban có một số thành viên là Giám mục như ban Bảo trợ và ban Cố vấn. Các ban khác đều do linh mục và giáo dân Việt Nam đảm nhiệm.
 
Thánh lễ khai mạc Đại hội lúc 17g00 ngày 15.02.1959 do Đức cha Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền chủ sự. Tất cả những diễn văn chào mừng Đức Hồng y Đặc sứ Agagianian cũng do Đức cha Simon Hiền và cha Giuse Nguyễn Văn Thiên đại diện phát biểu.
 
Đại hội Thánh Mẫu diễn ra thật long trọng từ Chúa nhật 15.02.1959 đến thứ Tư 18.02.1959 với sự chủ tọa của Đức Hồng y đặc sứ Gregorio Pietro Agagianian, ngài thay mặt cho Đức thánh Giáo hoàng Gioan XXIII. Khách mời quốc tế tham dự Đại hội với 20 Giám chức gồm: các Đức Tổng Giám mục, Giám mục, các vị Khâm sứ tại Á Đông, các chức sắc thuộc các Giáo hội và các tôn giáo bạn[112]. Qua diễn tiến của Đại hội, với những cuộc thăm viếng mục vụ tại Sài Gòn và các Giáo phận, Đức Hồng y đặc sứ Agagianian đã chứng kiến một sức sống mãnh liệt trong lòng Giáo hội Việt Nam. Qua những thông điệp, những diễn văn phát biểu trong Đại hội và qua những điện văn báo cáo về Tòa thánh và những bức điện tín sau khi đã rời Việt Nam về lại Rôma, Đức Hồng y đặc sứ đã hết lời khen ngợi Giáo hội Việt Nam, khen ngợi Hàng giáo sĩ, đặc biệt các Giám mục Việt Nam. Cũng cần nói thêm rằng, khi đến Việt Nam chủ tọa Đại hội Thánh Mẫu năm 1959, Đức Hồng y Gregorio Pietro Agagianian đang là quyền Bộ trưởng Bộ truyền giáo. Năm 1960, khi thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam, ngài đã được Đức Gioan XXIII bổ nhiệm làm Bộ trưởng chính thức. Do đó, cùng với Đức Gioan XXIII, Đức Hồng y Agagianian đóng một vai trò quan trọng trong việc thiết lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam và dĩ nhiên, chuyến kinh lý của ngài trong dịp Đại hội Thánh Mẫu năm 1959 để lại trong ký ức ngài những dư âm và nét đẹp về một Giáo hội trưởng thành, tràn đầy sức sống, để với sự kiện thiết lập Hàng Giáo phẩm, Tòa thánh như đóng ấn xác nhận và đưa Giáo hội Việt Nam bước vào một giai đoạn mới: giai đoạn trưởng thành của dòng lịch sử Giáo hội Việt Nam.
 
Với diễn tiến lịch sử vừa nêu trên, khởi đi sự kiện thành lập Giáo hội Việt Nam với hai giám mục tiên khởi được Tòa thánh bổ nhiệm: Đức cha François Pallu và Pierre Lambert de la Motte, những khởi đầu với nền móng đã được thiết đặt do bởi Đức Alexandre VII, Bộ truyền giáo, cách trực tiếp với Đức cha Lambert de la Motte, ông tổ của Hàng giáo sĩ bản xứ Việt Nam, giờ đây, điều kiện cần và đủ để từ Hàng giáo sĩ ấy, việc thiết lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam được minh định. Quả vậy, thời gian đã chín mùi, với Tông sắc Venerabilium Nostrorum, ngày 24.11.1960, Đức Giáo hoàng Gioan XXIII đã quyết định thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam.
  
Tông sắc Venerabilium Nostrorum ngày 24.11.1960 của Đức Giáo hoàng Gioan XXIII về việc thiết lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam[113]
 
GIOAN GIÁM MỤC, tôi tớ của các tôi tớ Thiên Chúa, để muôn đời ghi nhớ
 
Chư huynh đáng kính, là Hồng y Giáo hội Rôma, phụ trách tại Thánh bộ Truyền giáo. Sau khi tham khảo ý kiến Hiền huynh MARIO BRINI Khâm sứ Tòa thánh tại Đông Dương, đã nghĩ đến việc thiết lập Hàng Giáo phẩm tại Việt Nam là phù hợp và đem lại lợi ích lớn lao cho Giáo hội. Ta đây rất đồng ý, sau khi suy xét cẩn thận và qua việc tham khảo ý kiến của những người liên hệ, Ta lấy quyền Tông tòa mà quyết định và truyền thi hành như sau: Tại Việt Nam sẽ thành lập ba Giáo tỉnh, tức là:
 
Giáo tỉnh Hà Nội gồm: Tổng Giám mục Hà Nội, tới nay chỉ là Đại diện Tông tòa, với nhà thờ Chính tòa danh hiệu Thánh Giuse, và thêm những Giám tòa thuộc hạt từ nay cũng hết là Đại diện Tông tòa, để trở nên Giáo phận Chính tòa, tức là:
 
Lạng Sơn với nhà thờ Chính tòa danh hiệu thánh Đa Minh Hiển tu; Hải Phòng và Bắc Ninh với hai nhà thờ Chính tòa danh hiệu Nữ Vương rất thánh Mân côi; Hưng Hóa với nhà thờ Chính tòa danh hiệu Đức Mẹ hồn xác lên trời; Thái Bình với nhà thờ Chính tòa danh hiệu Thánh Tâm Chúa Giêsu; Bùi Chu với nhà thờ Chính tòa danh hiệu Nữ Vương rất thánh Mân côi; Phát Diệm với nhà thờ Chính tòa danh hiệu Nữ Vương rất thánh Mân côi; Thanh Hóa với nhà thờ Chính tòa danh hiệu Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội; Vinh với nhà thờ Chính tòa danh hiệu Đức Mẹ Lên Trời.
 
Giáo tỉnh Huế gồm: Tổng Giám mục Huế, trước đây chỉ là Đại diện Tông tòa, với nhà thờ Chính tòa Danh hiệu Trái Tim vẹn sạch Đức Mẹ, và thêm các Giám tòa thuộc hạt đã được trở thành Địa phận Chính tòa: Qui Nhơn với nhà thờ Chính tòa danh hiệu Đức Mẹ Lên Trời; Nha Trang với nhà thờ Chính tòa Chúa Giêsu Vua; KonTum với nhà thờ Chính tòa danh hiệu Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội.
 
Sau cùng, Giáo tỉnh Sài Gòn gồm: Tổng Giám mục Sài Gòn, trước đây chỉ là Đại diện Tông tòa, với nhà thờ Chính tòa danh hiệu Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội, và thêm các Địa phận thuộc hạt trước kia chỉ là Đại diện Tông tòa, tức là: Vĩnh Long với nhà thờ Chính tòa danh hiệu Bà Thánh Anna Thân Mẫu Đức Bà Maria; Cần Thơ với nhà thờ Chính tòa danh hiệu Thánh Tâm Chúa Giêsu.
 
Và các Địa phận mới được thành lập: Đà Lạt với nhà thờ Chính tòa danh hiệu thánh Nicola Bari; Mỹ Tho với nhà thờ Chính tòa danh hiệu Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội; Long Xuyên với nhà thờ Chính tòa sắp được xây dựng.
 
Ta cũng truyền cho các Giáo phận Lạng Sơn, Hải Phòng, Bắc Ninh, Thanh Hóa, Thái Bình, Huế, đến nay vẫn do Hội Thừa Sai Paris và Dòng Đa Minh điều hành, và các Địa phận mới Đà Lạt, Mỹ Tho, Long Xuyên, tất cả các Giáo phận kể trên từ nay sẽ trao cho Giáo sĩ Triều Việt Nam quản nhiệm. Ta cũng ban cho các Giáo phận vừa nói và các Giáo phận khác đã kể trên, cho các nhà thờ Chính tòa cũng như các Giám mục chính tòa được mọi quyền lợi, danh dự, đặc ân thích ứng. Đổi với các Giám mục chính tòa, Ta còn đặt thêm trọng trách và nhiệm vụ. Tất cả các Giáo phận trên đây sẽ tiếp tục trực thuộc Thánh bộ Truyền giáo, còn các Giám mục lãnh đạo thì ta bổ nhiệm như sau:
 
- Thân huynh đáng kính Giuse Maria Trịnh Như Khuê, trước đây là Đại diện Tông tòa với hiệu tòa Synaitana, từ nay là Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Hà Nội.
 
- Thân huynh đáng kính Vicentê Phạm Văn Dụ, Giám quản Lạng Sơn với hiệu tòa Bosetana từ nay là Giám mục Chính tòa Giáo phận Lạng Sơn.
 
- Thân huynh đáng kính Phêrô Khuất Văn Tạo, Giám quản Hải Phòng với hiệu tòa Caralliensi từ nay là Giám mục Chính tòa Giáo phận Hải Phòng, kiêm Giám quản Giáo phận Bắc Ninh.
 
- Thân huynh đáng kính Phêrô Nguyễn Huy Quang, Giám quản Hưng Hóa với hiệu tòa Claudiopolitana xứ Isauria, từ nay là Giám mục Chính tòa Giáo phận Hưng Hóa.
 
- Thân huynh đáng kính Đaminh Đinh Đức Trụ, Giám quản Thái Bình với hiệu tòa Cataquensi, từ nay Giám mục Chính tòa Giáo phận Thái Bình.
 
- Thân huynh đáng kính Giuse Phạm Năng Tĩnh, Giám quản Bùi Chu với hiệu tòa Bernicensi, từ nay là Giám mục Chính tòa Giáo phận Bùi Chu.
 
- Thân huynh đáng kính Phaolô Bùi Chu Tạo, Giám quản Phát Diệm với hiệu tòa Numida, từ nay là Giám mục Chính tòa Giáo phận Phát Diệm.
 
- Thân huynh đáng kính Phêrô Phạm Tần, Giám quản Thanh Hóa với hiệu tòa Justiniapoli bên Galatia, từ nay làm Giám mục Chính tòa Giáo phận Thanh Hóa.
 
- Thân huynh đáng kính Gioan Baotixita Trần Hữu Đức, Đại diện Tông tòa ở Vinh với hiệu tòa Niciotana, từ nay là Giám mục Chính tòa Giáo phận Vinh.
 
- Thân huynh đáng kính Phêrô Martinô Ngô Đình Thục, Đại diện Tông tòa tại Vĩnh Long với hiệu tòa Saesinensi, từ nay là Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Huế.
 
- Thân huynh đáng kính Phêrô Phạm Ngọc Chi, Đại diện Tông tòa tại Bùi Chu và Giám quản Tông tòa ở Qui Nhơn với hiệu tòa Sozopolitana bên Haemimonto, từ nay là Giám mục Chính tòa Giáo phận Qui nhơn.
 
- Thân huynh đáng kính Marcel Piquet, Đại diện Tông tòa tại Nha Trang với hiệu tòa Erizê, từ nay là Giám mục Chính tòa Giáo phận Nha Trang.
 
- Thân huynh đáng kính Paul Seitz, Đại diện Tông tòa tại Kontum với hiệu tòa Catulensi, từ nay là Giám mục Chính tòa Giáo phận Kontum.
 
- Thân huynh đáng kính Phaolô Nguyễn Văn Bình, Đại diện Tông tòa tại Cần Thơ với hiệu tòa Agnusiensi, từ nay là Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Sài Gòn.
 
- Thân huynh đáng kính Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền, Đại diện Tông tòa Sài Gòn với hiệu tòa Sagalassê, từ nay là Giám mục Chính tòa Giáo phận Đà Lạt.
 
Và Ta đặt các Hiền tử:
 
- Giuse Trần Văn Thiện làm Giám mục Chính tòa Giáo phận Mỹ Tho;
 
- Antôn Nguyễn Văn Thiện làm Giám mục Chính tòa Giáo phận Vĩnh Long;
 
- Philipphê Nguyễn Kim Điền làm Giám mục Chính tòa Giáo phận Cần Thơ;
 
- Micae Nguyễn Khắc Ngữ làm Giám mục Chính tòa Giáo phận Long Xuyên.
 
Trong các Địa phận mới này, thuộc Giám mục Chính tòa, cũng như Tổng Giám mục Chính tòa, nếu vì hoàn cảnh sứ vụ hay địa phương, chưa thể thành lập Kinh sĩ hội, thì phải chọn lựa và thiết lập ban Cố vấn Giáo phận theo Giáo luật, và một khi Kinh sĩ hội được thành lập, ban Cố vấn tức khắc chấm dứt nhiệm vụ. Các Giám mục trong trách vụ mục tử, cần phải đặc biệt lưu tâm đến việc đào luyện thanh niên có triển vọng lên chức linh mục: họ là mục tử tương lai của giáo dân. Ngân quỹ Giám tòa làm bởi tài sản Giáo phận hiện có, lợi tức Giám tòa, tặng vật dân chúng tự nguyện dâng cúng và tiền Bộ Truyền giáo trợ cấp. Việc cai quản và điều hành Giáo phận, quyền lợi Giáo sĩ và Giáo dân, bổ nhiệm vị Đại diện Kinh sĩ hội khi trống ngôi và các việc khác, sẽ chiếu Giáo luật để thi hành.
 
Tông sắc này sẽ được niêm ấn chì và Ta truyền cho vị Khâm sứ Tòa thánh tại Đông Dương mà Ta đã nói trên đây, phải đích thân hay ủy nhiệm người khác thi hành, miễn là người ấy có chức vụ trong Giáo hội. Nếu trong thời gian thi hành, Vị khác sẽ nhận chức vụ Khâm sứ Tòa thánh tại Đông Dương, thì Vị ấy sẽ thi hành mệnh lệnh của Ta. Vị thi hành phải thận trọng lập biên bản đầy đủ khi việc đã hoàn tất và nhanh chóng đệ lên Bộ Truyền giáo các văn kiện đã ký nhận chắc chắn. Ta quyết định, Tông sắc này có hiệu lực ngay tức khắc và mãi về sau, do đó, tất cả những gì được ấn định trong Tông sắc này phải được những người có liên quan tôn trọng, thực thi và như thế là có hiệu lực. Không một luật lệ nào nghịch lại có thể ngăn cản hiệu lực của Tông sắc này: chính Tông sắc này hủy bỏ các luật lệ ấy. Vì thế bất kỳ ai, ở chức vị nào, hữu ý hay vô tình nghịch lại những điều Ta vừa truyền trên đây, thì Ta luận phi và kể là vô giá trị.
 
Đàng khác, không ai được phép hủy bỏ hay giả mạo Tông sắc này của Ta và nếu công bố hoặc là ấn loát hay viết tay thì những bản đó phải được người có trách nhiệm trong Giáo hội đóng ấn và đồng thời phải mang chữ ký của một Vị chính thức quản lý văn kiện thì mới đáng tin cậy. Nếu ai dám khinh dể hay khước từ cách nào toàn Tông sắc này, thì hãy biết rằng sẽ bị những hình phạt Giáo luật đã ra cho những người không tuân lệnh các Đức Giáo hoàng.
 
Làm tại Roma, cạnh đền thờ Thánh Phêrô
 
Ngày 24.11.1960 Năm thứ ba Triều đại của Ta
 
Giáo hoàng Gioan XXIII
 
Ký tên
 
DOMINICUS Card. TARDINI, Quốc vụ Khanh.
 
GREGORIUS P. Card. AGAGIANIAN, Tổng Trưởng Bộ Truyền Giáo.
 
Franciscus Tinello, Nhiếp chính Chưởng ấn Tông tòa.
 
Franciscus A. Ferretti, Tổng Lục sự Tông tòa.
 
Albertus Serafini, Tổng Lục sự Tông tòa.

 
* Ghi tại Chưởng ấn Tông tòa, cuốn 105, (col CV) sổ 31.
 
Tông sắc Venerabilium Nostrorum trên đây là tiếng nói quyết định của Tòa thánh, công nhận sự trưởng thành và phát triển của Giáo hội tại Việt Nam. Từ con số khoảng 200.000 tín hữu khi Giáo hội Việt Nam được thành lập năm 1659, đến năm 1960, khi Tòa thánh thiết lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam, số các tín hữu đã lên đến 2.096.540. Từ 2 Giáo phận Đàng Trong và Đàng Ngoài vào năm 1659, đến khi thành lập Hàng Giáo phẩm, Giáo hội Việt Nam đã có 17 Giáo phận Tông tòa và qua Tông sắc Venerabilium Nostrorum, Tòa thánh đã thành lập thêm 3 Giáo phận mới: Đà Lạt, Mỹ Tho và Long Xuyên. Giáo hội Việt Nam lúc bấy giờ đã có 20 Giáo phận Chính tòa, trong đó 18 Giáo phận được trao cho các Giám mục người Việt Nam cai quản
 
Sau khi đón nhận tin vui từ Đức Giáo hoàng Gioan XXIII và Tòa thánh, niềm vui nhanh chóng lan tỏa trong toàn Giáo hội Việt Nam và trong tâm hồn các tín hữu. Nhiều cuộc Đại lễ liên tiếp diễn ra: Thánh lễ Tạ ơn được cử hành trọng thể tại Nhà thờ Chính tòa Đức Bà Sài Gòn ngày 18.12.1960 do đức Khâm sứ Mario Brini chủ sự; Đại lễ tấn phong Giám mục ngày 22.01.1961 cho bốn đức cha: Antôn Nguyễn Văn Thiện, Giám mục Vĩnh Long; Micae Nguyễn Khắc Ngữ, Giám mục Long Xuyên; Giuse Trần Văn Thiện, Giám mục Mỹ Tho; Philipphê Nguyễn Kim Điền, Giám mục Cần Thơ. Ngày 02.04.1961, dịp lễ Phục sinh, Đức cha Phaolô Nguyễn Văn Bình nhận chức Tổng Giám mục Sài Gòn tại Nhà thờ Chánh tòa. Sau đó, ngày 12.04.1961, Đức cha Phêrô Ngô Đình Thục nhận chức Tổng Giám mục Huế tại Nhà thờ Chánh tòa Phủ Cam. Và nhiều cuộc đại lễ khác tiếp diễn trong lòng Giáo hội Việt Nam vào những thời gian này.
 
THAY LỜI KẾT

Với tâm tình tri ân cảm tạ Thiên Chúa, lòng biết ơn đối với các bậc tiền nhân, đặc biệt trong bối cảnh Giáo hội Việt Nam đang tiến hành Hồ sơ xin phong thánh cho hai Giám mục tiên khởi của Giáo hội Việt Nam: François Pallu và Pierre Lambert de la Motte, nhìn lại dòng lịch sử, cách đặc biệt với diễn tiến của sự kiện thành lập Hàng giáo sĩ bản xứ và tiến tới việc thiết lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam, cho dù với biết bao nỗi thăng trầm, khó khăn, đôi khi rất phức tạp và tế nhị, nhưng theo dòng thời gian ấy, ân sủng của Thiên Chúa đã và đang không ngừng tuôn đổ trên quê hương và trên Giáo hội tại Việt Nam thân yêu.
 
Chính qua tiến trình lịch sử lâu dài và nhiều khó khăn như thế, sự kiện thành lập Hàng giáo sĩ và Hàng Giáo phẩm Việt Nam, nhờ công khó, tinh thần trung kiên, hiệp thông, yêu mến Giáo hội của Các Tiền Nhân, đặc biệt với Đức cha Pierre Lambert de la Motte, Vị Tôi Tớ Chúa, Đấng mà chúng ta không ngại xác định là “Ông Tổ” của Hàng giáo sĩ bản xứ để từ đó, thành quả lớn lao mà Thiên Chúa và Tòa thánh ban tặng cho Giáo hội tại Việt Nam, đó là Hàng Giáo phẩm Việt Nam ngày càng trở nên kiên vững, để từ 2 Giáo phận và 2 Giám mục ban đầu, đến nay, chúng ta có được 27 Giáo phận, 48 Giám mục; 7.056 linh mục; 4.626 chủng sinh và 7.294.713 tín hữu.
 
Trong bầu khí của Thượng Hội đồng Giám mục hiện nay, chúng ta nhận ra tính “Hiệp hành” của Giáo hội Việt Nam từ khởi sự cho đến hiện tại, tinh thần “hiệp hành” đã và đang được kiện toàn qua dòng lịch sử, giữa mọi thành phần Dân Chúa, từ các Giám mục tiên khởi, các thừa sai, các Giám mục và linh mục bản xứ Việt Nam, các tín hữu Công giáo cùng với đất nước và dân tộc Việt Nam. Như Tông thư Maximum Illud, Đức Giáo hoàng Bênêđictô XV viết: “Làm sao một dân tộc có thể cảm nhận cách đầy đủ rằng, Giáo hội hoàn toàn thuộc về họ, chứ không phải là một tổ chức ngoại lai, nếu Giáo hội chỉ có thể điều khiển do một Hàng Giáo phẩm bên ngoài vào? Hơn nữa, mục đích của công cuộc truyền giáo sẽ không đạt được, nếu không thiết lập Hàng Giáo phẩm địa phương”[114]. Trong Sứ điệp Đức thánh Giáo hoàng Gioan-Phaolô II gởi các Giám mục Việt Nam, ngày 24.11.1985, dịp mừng Ngân khánh kỷ niệm thành lập Hàng Giáo phẩm (1960-1985), ngài viết: “Quyết nghị thiết lập ba Giáo tỉnh: một ở miền Bắc, một ở miền Trung và một ở miền Nam với ba Tòa Tổng Giám mục Hà Nội, Huế và Sài Gòn, bao gồm 20 Giáo phận mới, quả là một dấu chỉ hiển nhiên nói lên niềm cảm quý mà Đức cổ Giáo hoàng Gioan XXIII ca ngợi lòng nhiệt thành và những đức tính đặc biệt của hàng Giám mục và Giáo sĩ Việt Nam, cũng như nói lên sự xác tín của ngài trước công lao mục vụ tại địa phương đã tới mức trưởng thành”. “Lịch sử là quá khứ, nhưng là bài học cho hiện tại và hướng mở đến tương lai”. Những bài học lịch sử, những gương mẫu của các thừa sai, đặc biệt của hai vị Giám mục tiên khởi: François Pallu và Pierre Lambert de la Motte vẫn luôn là gương mẫu, là sự khích lệ, là hướng đi cho tinh thần “Hiệp hành”, cho công cuộc đào tạo Hàng giáo sĩ và kiện toàn hơn nữa Hàng Giáo phẩm và Giáo hội Việt Nam hôm nay.
 
Có lẽ sẽ không thừa khi nhắc lại đoạn trích trong tác phẩm Vie de Mgr La Motte Lambert, Evêque de Béryte, cha Jacques-Charles de Brisacier đã viết về Đức cha Pierre Lambert de la Motte: “Được rửa tội với tên thánh Phêrô. Dường như Thiên Chúa quan phòng đã muốn dùng điềm báo tốt lành đó, để nhấn mạnh việc sau này, khi Tòa thánh gởi các vị Đại diện Tông tòa đến truyền giáo ở Trung Quốc và các xứ lân cận. Đức cha De La Mottte sẽ là nền móng cho Hàng Giáo phẩm của các Giáo hội mới mẻ đó. Chính ngài sẽ làm cho các dân tộc nhìn nhận và tôn kính quyền bính của thánh Phêrô”[115].
 
Quả thật, trong Sứ điệp ngày 14.01.1961 gởi Hàng Giáo phẩm Việt Nam, Đức Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII viết: “Từ nay hầu hết các địa phận ở Việt Nam sẽ do các Giám mục bản quốc quản trị. Sự kiện đó minh chứng một cách hùng hồn sự trưởng thành và khả năng của Hàng giáo sĩ bản xứ nay đã đông đúc và được huấn luyện đầy đủ. Sự kiện đó còn minh chứng rằng: những Huấn dụ, những Chỉ thị do các Vị Giáo hoàng La Mã ban bổ qua các Thông điệp Truyền giáo đã có hiệu quả dồi dào, và đã được khắp nơi tuân theo một cách trung thành; nhất là trong những năm gần đây, qua các thông điệp “Maximum Illud” của Đức Bênêđictô XV, “Rerum Ecclesiae” của Đức Piô XI, “Evangelii Praecones” và “Fidei Donum” của Đức Piô XII, và sau cùng Thông điệp mới nhất “Princeps Pastorum” của Ta”[116].
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO

01. Tài liệu tại kho lưu trữ của Thánh bộ Truyền giáo - Arch. Prop. S.R.C.G.
 
02. Tài liệu tại kho lưu trữ của Hội Thừa sai Paris - AMEP.
 
03. Christopho BORRI, Relation de la Nouvelle mission des Pères de la Compagnie de Jésus au Royaume de la Cochinchine, Lille, 1631.
 
04. Alexandre de RHODES, Voyages et Missions, Paris 1653.
 
05. Alexandre de RHODES, Divers voyages et missions, Tome II, Paris 1653.
 
06. A. BONIFACY, Les débuts du christianisme en Annam. Des origines aux commencements du XVIHe siècle, Hanoỉ, imprimerie tonkinoise, 1930.
 
07. L.-E. LOUVET, La Cochinchine religieuse, Tome 1 và 2, Paris Ernest Leroux Éditeur, 1885.
 
08. P.-Y. MANGUIN, Les Portugais sur les côtes du Việt-Nam et du Campa. Etudes sur les routes maritimes et les relations commerciales d'après les sources portugaises (XVIe, XVIIe et XVIIIe siècles), Édition EFEO, Paris 1972.
 
09. Joseph Nguyễn HUY LAI, La tradition religieuse, spirituelle et sociale au Vietnam. Sa confrontation avec le christianisme, Édition Beauchesne, Paris 1981.
 
10. Nguyễn HỮU TRỌNG, Le clergé national dans la fondation de l'Église au Vietnam. Les origines du clergé vietnamien, Saigon, Nxb. Tinh Viet, 1959.
 
11. G. ZUCCHELLI, Les missionnaires franciscains au Vietnam, France, imprimerie Repro-Technic Gaillot à Grasse, 1985.
 
12. Romanet du CAILLAUD, Essai sur les Origines du Christianisme au Tonkin et dans les autres pays annamites, Paris 1915.
 
13. Henri CHAPPOULIE, Aux origines d'une Églige romaine dans toutes les parties du monde, Amsterdam, 1716.
 
14. Henri CHAPPOULIE, Aux origines d'une Église, Rome et les Missions d'Indochine au XVIIe siècle, Paris 1943.
 
15. Les MEP, Les Missions étrangères trois siècles et demi d'histoire et d'aventure en Asie, Éd. Pérrin, 2008.
 
16. Adrien LAUNAY, Documents historiques relatifs à la société des Missions-Etrangères, Paris, Ed. Bloud et Gay, 1904.
 
17. Adrien LAUNAY, Histoire générale de la société des Missions- Etrangères, Tome 1, 2, 3, Téqui, Libraire-Éditeur, 1894, rééditées par les MEP 2003.
 
18. Adrien LAUNAY, Histoire de la mission de Cochinchine, Tome 1, 2, 3, Anciennes Maisons Charles Douniol et Retaux, P. Téqui successeur 1924, rééditées par les MEP 2000.
 
19. Adrien LAUNAY, Histoire de la mission du Tonkin, Librairie Orientale et Américaine, Éd. Maisonneuve frères 1927, rééditées par les MEP 2000.
 
20. Gilles VAN GRASDORFF, La belle histoire des Missions étrangères 1658-2008, Éd. Pérrin, 2007.
 
21. Jean GUENNOU, Les missions étrangères, Paris, 1963.
 
22. François FAUCONNET-BUZELIN, Aux sources des Missions étrangères, Pierre Lambert de la Motte, 1624-1679. Éd. Pérrin 2006.
 
23. Les MEP, Lettres de Monseigneur Pallu, écrites de 1654 à 1684, Les Indes Savantes 2008.
 
24. Monita ad Missionarios: Instructions aux Missionnaires de la S. Congrégation de la Propagande, rédigée à Ayuthia (Siam) 1665 par François Pallu et Pierre Lambert de la Motte, rééditées par les AMEP, 2000.
 
25. Alain FOREST, Les missionnaires franẹais au Tonkin et au Siam, XVIIe-XVIIIe siècles, Tome 2, Éd. L'Harmattan, 1998.
 
26. André MARILLIER, Nos pères dans la foi, Notes sur le clergé catholique du Tonkin de 1666 à 1765, Tome 1, 2, 3. Églises d'Asie, Série histoire 1995.
 
27. Đức Thầy Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng, Giám mục tiên khởi Việt Nam, rút từ Nam Kỳ Địa Phận, Imprimerie de la Mission, Tân Định-Sài Gòn 1934.
 
28. Trần ANH DŨNG, Hàng Giáo phẩm Công Giáo Việt Nam 1960- 1995, Đắc Lộ Tùng Thư, 1996.
 
29. La Documentation Catholique.
 
30. Revue d'Histoire des Missions, Tome VII-1930.
 
31. A. Brou, Saint Franzcois Xavier, Paris 1922.
 
32. Phan PHÁT HUỒN, Việt Nam Giáo sử, quyển 1 và 2, Cứu Thế Tùng thư, Sài Gòn-Việt Nam 1958, 1962.
 
33. Nguyên HỒNG, Lịch sử truyền giáo tại Việt Nam, tài liệu in Ronéo.
 
34. Lê NGỌC BÍCH, Giám mục người nước ngoài qua chặng đường 1659-1975 với các Giáo phận Việt Nam, NXB Tôn Giáo 2009.
 
35. Tòa Giám Mục Kon Tum, Khơi Nguồn Tiến Bước, xuất bản năm 2004.
 
36. Lm. Aug Nguyễn Văn Trinh, Lược Sử Giáo Hội Việt Nam, ĐCV thánh Giuse, 1994.
 
37. Lm Phêrô Nguyễn Thanh Tùng, Lịch sử thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam, Nxb Tôn Giáo 2010.
 
38. Lm. Bùi Đức Sinh, OP, Giáo Hội Công Giáo Ở Việt Nam, 2002.
 
39. Lm. Đỗ Quang Chính, SJ. Dòng Tên Trong Xã Hội Đại Việt 1615 - 1773.
 
40. Lm. Trương Bá Cần, Lịch Sử Phát Triển Công Giáo Ở Việt Nam, Nxb Tôn giáo, 2008.
 
41. Jacques-Charles de Brisacier, Vie de Mgr La Motte Lambert, Evêque de Béryte, P.1: Famile, École, AMEP, Vol. 122.
 
Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 132 (Tháng 11 & 12 năm 2022)
 
WHĐ (12.04.2023)
 
 
 
[1] Xem bài viết: Vị Tôi Tớ Chúa, Đức cha Pierre Lambert de la Motte, những thành quả truyền giáo và tiến trình xin phong thánh. https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/vi-toi-to-chua-duc-cha-pierre-lambert-de-la-motte-nhung-thanh-qua-truyen-giao-va-tien-trinh-xin-phong-thanh-46112
 
[2] Xem bài viết: Vị Tôi Tớ Chúa, Đức cha Pierre Lambert de la Motte, những thành quả truyền giáo và tiến trình xin phong thánh. https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/vi-toi-to-chua-duc-cha-pierre-lambert-de-la-motte-nhung-thanh-qua-truyen-giao-va-tien-trinh-xin-phong-thanh-46112
 
[3] Xem https://www.youtube.com/watch?v=e0cW2sWU7yc
 
[4] Bộ Truyền giáo, Huấn thị 1659, Mục III: Tại nơi truyền giáo - số 1. Đào tạo Hàng Giáo sĩ địa phương.
 
[5] Bộ Truyền giáo, Huấn thị 1659, Mục III: Tại nơi truyền giáo - số 2. Về Giám mục bản quốc.
 
[6] X. Lm. Phêrô Nguyễn Thanh Tùng, Lịch sử thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam, Nxb Tôn Giáo, tháng 8.2010, tr 9-34.
 
[7] X. Lm. Phêrô Nguyễn Thanh Tùng, Hội Thầy giảng, lưu hành nội bộ, tr.1.
 
[8] Bắc triều thuộc nhà Mạc, từ Thanh Hóa trở ra, với triều đình ở Thăng Long và Nam Triều thuộc nhà Lê, từ Thanh Hóa trở vào với triều định ở vùng Vạn Lại, nhưng quyền hành nằm trong tay của Nguyễn Kim.
 
[9] X. Lm. Phêrô Nguyễn Thanh Tùng, Hội Thầy giảng, lưu hành nội bộ, tr.8.
 
[10] X. Lm. Phan Phát Huồn, C.S.s.R, Việt Nam Giáo Sử 1533-1933, Nxb Khai Trí, tập 1, tr.135-137.
 
[11] Lm. Đỗ Quang Chính, S.J., Dòng Tên Trong Xã Hội Đại Việt 1615 -1773, trang 498: “tinh thần tu trì và công việc phục vụ các linh hồn của các thầy giảng hơn là chú trọng tới khía cạnh pháp lý của đời tu”.
 
[12] Lm. Bùi Đức Sinh, OP, Giáo Hội Công Giáo ở Việt Nam, 2002,trang 137 “một đoàn thể như một tu hội, có nội quy, có đào tạo và có lời khấn hứa”.
 
[13] Lm. Trương Bá Cần, Lịch Sử Phát Triển Công Giáo ở Việt Nam, tập 1, trang 189. “giúp giảng đạo, giúp dạy giáo lý”.
 
[14] Hội Thầy giảng là tiền thân của Nhà Đức Chúa Trời ở miền Bắc hoạt động tích cực cho đến năm 1954 với sự kiện di dân vào Nam và kết thúc chính thức Hội Thầy giảng và dấu vết còn lại về Hội Thầy giảng hiện nay là Tu Hội Nhà Chúa Nguyễn Duy Khang hay Tu hội Đắc Lộ tại Sài Gòn.
 
[15] Lm. Đỗ Quang Chính, SJ. Dòng Tên Trong Xã Hội Đại Việt 1615 - 1773.
 
[16] Rhodes, Histoire du royaume du Tonkin, trang 255-256 ; x. Lm. Bùi Đức Sinh, OP, Giáo hội Công giáo ở Việt Nam, 2002, tr. 150.
 
[17] X. Lm. Bùi Đức Sinh, OP, Giáo Hội Công giáo ở Việt Nam, 2002, tr.138.
 
[18] Lm. Nguyễn Hồng, Lịch Sử Truyền Giáo ở Việt Nam, quyển II, Nxb Từ điển Bách khoa, tr 122.
 
[19] Nt.
 
[20] Nt., tr 123.
 
[21] Lm. Bùi Đức Sinh, OP, Giáo hội Công giáo ở Việt Nam, 2002, tr. 152.
 
[22] Lm. Aug Nguyễn Văn Trinh, Lược Sử Giáo Hội Việt Nam, ĐCV thánh Giuse, 1994, tr.82.
 
[23] Revue d'Histoire des Missions, Tome VII-1930, p. 47-48.
 
[24] A. Brou, Saint François Xavier, Paris 1922, II,9.
 
[25] Alexandre de Rhodes, Divers Voyages et missions, p.198.
 
[26] Lm. Phêrô Nguyễn Thanh Tùng, Lịch Sử Thiết Lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam, Nxb Tôn Giáo - Hà Nội 2010, tr. 12.
 
[27] X. Lm Phêrô Nguyễn Thanh Tùng, Lịch Sử Thiết Lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam, Nxb Tôn Giáo - Hà Nội 2010, tr. 12.
 
[28] Dự án và đề nghị của cha Đắc Lộ xem ra không tưởng, không thể thực hiện. Theo lịch sử, lúc này trong Giáo hội chỉ có năm hay bảy Tòa Thượng phụ ở những địa điểm quan trọng. Nhưng các nhà nghiên cứu lịch sử cho rằng, mục đích cha Đắc Lộ xin thiết lập Tòa Thượng phụ ở Việt Nam là để đưa công cuộc truyền giáo ở Việt Nam và vùng Đông Ấn (Indochine) thoát ra khỏi quyền bảo hộ Bồ Đào Nha với Tòa Thượng phụ và Giám mục tại Goa, Macao hay Malacca.
 
[29] X. Lm. Phêrô Nguyễn Thanh Tùng, Lịch Sử Thiết Lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam, Nxb Tôn Giáo - Hà Nội 2010, tr. 13.
 
[30] Les Missions Étrangères, Trois siècles et demi d'histoire et d'aventure en Asie, Édition Perrin, 2008, p. 9.
 
[31] AMEP, vol. 247, p 45. Adrien Launay, Histoire de la Mission de Cochinchine, Tome I, bản la ngữ, p. 9.
 
[32] Hai Giáo phận đầu tiên của Việt Nam được phân chia theo địa giới chính trị xã hội do sự phân tranh giữa Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài và Chúa Nguyễn ở Đàng Trong, với sông Gianh làm ranh giới. Giáo phận Đàng Ngoài (Tonkin) cũng bao gồm 5 tỉnh miền tây nam Trung Quốc là: Vân Nam, Quí Châu, Hồ Quảng, Quảng Tây, Tứ Xuyên và Lào ; Giáo phận Đàng Trong (Cochinchine) gồm phần đất phía nam từ sông Gianh trở vào và vùng đất thuộc Campuchia, cùng với các tỉnh Đông Nam Trung Quốc: Triết Giang, Phước Kiến, Quảng Đông, Giang Tây, đảo Hải Nam và các đảo lân cận.
 
[33] Jean Guennou, Les missions étrangères, Paris, 1963, p. 69 ; François Fauconnet- Buzelin, Aux sources des Missions étrangères, Pierre Lambert de la Motte, Édition Perrin 2006, p. 72.
 
[34] Cha Jacques Bourges làm giám mục tiên khởi Giáo phận Tây Đàng Ngoài từ 1679-1614.
 
[35] Cha François Deydier làm Tổng Đại diện cho giáo phận Đàng Ngoài từ 1666- 1679, rồi giám mục tiên khởi Giáo phận Đông Đàng Ngoài từ 1679-1693.
 
[36] Franẹoỉs Fauconnet-Buzelin, Aux sources des Missions étrangères, Pierre Lambert de la Motte, p. 76.
 
[37] Adrien Launay, Histoire Générale de la Société des Missions Étrangères, Tome I, p. 75.
 
[38] Bản đồ lưu trữ tại Thư viện quốc gia Pháp (Bibliothèque Nationale de France).
 
[39] Adrien Launay lại không nhắc chi tới thừa sai Chevreuil trong cuốn Histoire de la Mission de Siam (1662-1811), Paris, Téqui, 1920, p. 7: “Ngài được tháp tùng bởi ba linh mục thừa sai Laneau, Hainques và Brindeau, và bởi một giáo dân trợ tá, ông Chameson-Foisy”.
 
[40] Adrien Launay, Histoire Générale de la Société des Missions Étrangères, Tome I, p. 75.
 
[41] Hình hai Đức cha được lưu giữ tại Archives biographiques MEP.
 
[42] Adrien Launay, Histoire Générale de la Société des Missions Étrangères, Tome I, p. 97.
 
[43] Adrien Launay, Documents historiques relatifs à la Société des Missions Étrangères, Paris, 1904, p. 27-35.
 
[44] Archives photographiques MEP.
 
[45] Adrien Launay, Histoire Générale de la Société des Missions Étrangères, Tome I, p. 98.
 
[46] Sđd, p. 98. Xem Monita ad Missionarios: Instructions aux Missionnaires de la S. Congrégation de la Propagande, rédigée à Ayuthia (Siam) 1665 par François Pallu et Pierre Lambert de la Motte, rééditées par les AMEP, 2000.
 
[47] Tòa Giám mục Kon Tum, Khơi Nguồn Tiến Bước, xuất bản năm 2004.
 
[48] AEP, Vol 858, p. 72.
 
[49] Tên gọi này không chính xác và không đúng theo quy định của Giáo luật liên quan đến Tu hội hay Dòng tu.
 
[50] Bản Nội quy của “Hội dòng Tông đồ” gồm 9 chương. Xem. AMEP, volume 169, p. 1-31. Adrien Launay, Histoire générale de la Société des Missions Étrangères de Paris, Tome I, p. 110-113.
 
[51] AMEP, vol 116, p. 559-560.
 
[52] AMEP, vol. 121, p. 661.
 
[53] AMEP, vol. 121, p. 585.
 
[54] Thánh bộ Truyền giáo, Instructions 1659.
 
[55] X. Lm. Phêrô Nguyễn Thanh Tùng, Lịch Sử Thiết Lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam, Nxb Tôn Giáo - Hà Nội 2010, tr.27.
 
[56] Thánh bộ Truyền giáo, Huấn thị 1659, Mục III: Tại nơi truyền giáo - số 2. Về Giám mục bản quốc
 
[57] Lm. Bùi Đức Sinh O.P., M.A., Giáo Hội Công Giáo ở Việt Nam, tr. 285.
 
[58] Lm. Bùi Đức Sinh O.P., M.A., Giáo Hội Công Giáo ở Việt Nam, p. 258.
 
[59] Adrien Launay, Histoire de la Mission du Tonkin, p. 72. Xem. Lm. Nguyễn Hồng, Lịch Sử Truyền Giáo ở Việt Nam, quyển II, Nxb. Từ Điển Bách Khoa, Nxb. Hà Nội, 2009, tr. 136.
 
[60] Lm. Aug Nguyễn Văn Trinh, Lược Sử Giáo Hội Việt Nam, ĐCV thánh Giuse, 1994, tr.130.
 
[61] Adrien Launay, Histoire de la Mission du Tonkin, p.140-141 ; Archivio Storico di Propaganda Fide, SOCP, Vol 3, p. 162r-163r.
 
[62] Lm. Nguyễn Hồng, Lịch Sử Truyền Giáo ở Việt Nam, quyển II, Nxb. Từ Điển Bách Khoa, Nxb. Hà Nội, 2009, tr. 162-163.
 
[63] X. Lm. Nguyễn Hồng, Lịch Sử Truyền Giáo ở Việt Nam, quyển II, Nxb. Từ Điển Bách Khoa, Nxb. Hà Nội, 2009, tr. 165.
 
[64] Adrien Launay, Histoire Générale de la Société des Missions Étrangères, Tome I, p. 141.
 
[65] Hiệp hội Các Tín Hữu Nam Nữ Mến Thánh Giá và dòng nữ Mến Thánh Giá được Đức Giáo Hoàng Innôxentê XI công nhận qua sắc lệnh “Cum Sicut” ngày 02.01.1679.
 
[66] Vì tại Việt Nam lúc bấy giờ đang có sự cạnh tranh rất gay gắt giữa các thừa sai thuộc Bộ Truyền giáo và Dòng Tên thuộc Quyền bảo hộ Bồ Đào Nha.
 
[67] Ủy ban Văn hóa - HĐGMVN, Dấu Ấn 350 Năm Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, tr. 25.
 
[68] Trích Bảng Tổng kết Số liệu 27 Giáo phận (theo báo cáo Tòa thánh, tính đến hết ngày 31.12.2021).
 
[69] Jacques-Charles de Brisacier, Vie de Mgr La Motte Lambert, Evêque de Béryte, P.1: Famile, École, AMEP, Vol. 122.
 
[70] X. Lm. Phêrô Nguyễn Thanh Tùng, Lịch sử thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam, Nxb Tôn Giáo 2010, tr 18-26.
 
[71] X. Lm. Phêrô Nguyễn Thanh Tùng, Lịch sử thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam, Nxb Tôn Giáo 2010, tr 287.
 
[72] Additions aux Instructions là tài liệu được Đức cha Pallu viết tại Ispahan (Ba tư) trên đường đi đến Á Đông, được gởi cho các nhà truyền giáo tại Trung quốc, Đàng Trong và Đàng Ngoài để chỉ dẫn cho những cuộc hành trình truyền giáo, những vấn đề liên quan tại vùng đất truyền giáo, nhất là tại Đàng Ngoài. Tài liệu này hoàn tất ngày 10.9.1662.
 
[73] Lettres de Monseigneur Pallu, écrites de 1654 à 1684, Les Indes Savantes, MEP, 2008, tr. 34.
 
[74] AMEP, vol. 204, tr. 435 ; vol. 274, tr. 56 ; Adrien Launay, Histoire de la mission de Cochinchine, Tome I, p. 229-230, “Sur la création d'évêques indigènes”.
 
[75] AMEP, vol. 130, tr. 293 ; vol. 102, tr. 147.
 
[76] AMEP, vol. 130, p. 285 ; vol. 249, p. 45, vol. 204, p. 435 ; vol. 274, p. 56; Adrien Launay, Histoire de la mission du Tonkin, p. 179 ; Adrien Launay, Histoire de la mission de Cochinchine, Tome. I, p. 229-230.
 
[77] Alain Forest, Les missionnaires franẹais au Tonkin et au Siam, XVIIe-XVIIIe siècles, Tome II, L'Harmattan, 1998, p. 168. “... des évêques titulaires d'un nouveau siège épiscopal local, responsables à part entière d'un nouveau diocèse, créé par Rome; soit des Vicaires apostoliques, à l'égal des Vicaires apostoliques d'origine occidentale”.
 
[78] AMEP, vol. 204, p. 641 ; vol. 276, p. 388 ; Adrien Launay, Histoire de la mission du Tonkin, p. 453.
 
[79] Ngày 25.11.1679, Tòa thánh phân chia Giáo phận Đàng Ngoài thành: Giáo phận Tây Đàng Ngoài (Hà Nội) do Đức cha Jacques de Bourges cai quản và Đông Đàng Ngoài (Hải Phòng) được trao cho Đức cha François Deydier. Cả hai Đức cha De Boourges và Deydier đều là người Pháp, thuộc Hội Thừa sai Paris (MEP).
 
[80] Cũng trong thời gian này, dự án Giám mục bản xứ tại Trung Hoa được thành sự. Đức cha Lo-Wan-tsao, vị Giám mục tiên khởi của Giáo hội Trung Hoa đã được tấn phong ngày 08.04.1685.
 
[81] AMEP, vol. 854, p. 194 ; Adrien Launay, Histoire de la mission du Tonkin, p.453 “Du projet de faire nommer évêque M. Joseph Phuoc. Rapport de Mgr Laneau sur le Collège de Siam”.
 
[82] André Marillier, Nos pères dans la foi, Notes sur le clergé catholique du Tonkin de 1666 à 1765, Tome II, p. 21-22.
 
[83] X. Lm. Phêrô Nguyễn Thanh Tùng, Lịch sử thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam, Nxb Tôn Giáo 2010, tr 51-57.
 
[84] Huấn thị Neminem profecto được dịch và đăng trong báo L'Ami de la religion et du roi, Paris, A. Le Clere, (Tờ báo đề cập đến những vấn đề về Giáo hội, về chính trị và văn chương, phát hành ba số trong tuần), quyển 129, tháng 5.1846, tr. 301-307 và tr. 321-327.
 
[85] “Về việc truyền bá đức tin trong toàn thế giới”. Bản dịch Tông thư bằng tiếng Pháp được in trong: La Documentation Catholique, quyển 2, ngày 27.12.1919, tr. 802-807. Xem Repères pour la mission chrétienne, Cinq siècles de tradition missionnaire. Perspectives acuméniques. Textes réunis et introduits par Klauspeter Blaser, Nxb. Cerf/Labor et fides, năm 2000, tr. 32-35.
 
[86] La Documentation Catholique, Tome II, ngày 27.12.1919, p. 804.
 
[87] Ibidem, p. 804.
 
[88] “Về Sứ mệnh của Giáo hội”. Thông điệp này được dịch sang tiếng Pháp và in trong: La Documentation Catholique, Tome XV, năm 1926, cột số 1411-1426.
 
[89] La Documentation Catholique, Tome XV, năm 1926, cột số 1418
 
[90] La Documentation Catholique, Tome XV, năm 1926, cột số 1419-1420.
 
[91] La Documentation Catholique, Tome XV, năm 1926, cột số 1421.
 
[92] Đức Piô XII, Thông điệp Evangelii Praecones ngày 02.06.1951: AAS 43 - 1951 - 497-528.
 
[93]
 
[94] La Documentation Catholique, Tome 15, năm 1926, cột số 1421.
 
[95] Vaticano II, Ad Gentes, số 6; Xem. Sứ điệp của Đức thánh Gioan-Phaolô II gởi Các Giám mục Việt Nam, dịp mừng Ngân khánh Thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam, ngày 24.11.1985.
 
[96] X. Lm. Phêrô Nguyễn Thanh Tùng, Lịch sử thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam, Nxb Tôn Giáo 2010, tr 74-79.
 
[97] X. Adrien Launay, Histoire de la mission de Cochinchine, Tome II, p. 45-46
 
[98] Đức cha Costa là người Ý, thuộc dòng Augustinô. Năm 1730, ngài đã làm Khâm sứ kinh lược ở Đàng Ngoài, sau đó được bổ nhiệm làm Giám mục Đại diện Tông tòa Đông Đàng Ngoài (1636-1754).
 
[99] Đức cha Henry Lécroart sinh ngày 04.11.1864 tại Lille, nước Pháp. Thuộc dòng Tên, chịu chức linh mục ngày 28.08.1897. Là nhà truyền giáo tại Trung Hoa từ năm 1901. Ngày 30.07.1917 được bổ nhiệm làm Phó Giám Mục Đại diện Tông tòa, Hiệu tòa Anchialus. Ngày 23.12.1919, kế vị Giám mục Đại diện Tông tòa Giáo phận Tcheli thuộc khu Đông Nam, tách lập từ Giáo phận Bắc Kinh, Trung Quốc. Ngài còn có tên Trung Hoa là Lưu Khánh Minh (Liu Qinming). Đức cha Henry Lécroart qua đời ngày 17.08.1939.
 
[100] X. . Biên bản cuộc họp các Giám mục Đàng Ngoài “Réunion des évêques du Groupe du Tonkin à Phát Diệm sous la présidence de Monseigneur Lécroart, Visiteur Apostolique des missions d’Indochine” do vị thư ký cuộc họp, Đức cha André Eloy, tên Việt là Bắc, Giám mục Đại diện Tông tòa Giáo phận Vinh (1912-1946) ghi chép.
 
[101] Biên bản: “Réunion des évêques du Groupe du Tonkin à Phát Diệm sous la présidence de Monseigneur Lécroart, Visiteur Apostolique des missions d'Indochine”.
 
[102] La Documentation Catholique, Tome XV, năm 1926, cột số 1421.
 
[103] X. Lm. Phêrô Nguyễn Thanh Tùng, Lịch sử thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam, Nxb Tôn Giáo 2010, tr 79-80.
 
[104] X. Lm. Phêrô Nguyễn Thanh Tùng, Lịch sử thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam, Nxb Tôn Giáo 2010, tr 86-88.
 
[105] Indosinensis regio: région Indochinoise (danh từ: Indo - Chine = Indochine)
 
[106] X. Lm. Phêrô Nguyễn Thanh Tùng, Lịch sử thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam, Nxb Tôn Giáo 2010, tr 89-113.
 
[107] X. Lm. Phêrô Nguyễn Thanh Tùng, Lịch sử thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam, Nxb Tôn Giáo 2010, tr 83-88.
 
[108] X. Lm. Phêrô Nguyễn Thanh Tùng, Lịch sử thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam, Nxb Tôn Giáo 2010, tr 113-151.
 
[109] X. Lm. Phêrô Nguyễn Thanh Tùng, Lịch sử thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam, Nxb Tôn Giáo 2010.
 
[110] X. Lm. Phêrô Nguyễn Thanh Tùng, Lịch sử thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam, Nxb Tôn Giáo 2010, tr 152-167.
 
[111] X. Lm. Phêrô Nguyễn Thanh Tùng, Lịch sử thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam, Nxb Tôn Giáo 2010, tr 174-228.
 
[112] Hai mươi vị Giám chức gồm:
 
4 vị Philippines: Đức cha Ruffino Santos, Tổng Giám mục Giáo phận Manila
 
Đức cha Edigio Vagnozzi, người Ý, là Sứ thần Tòa thánh tại Philippines
 
Đức cha Alexandro Alalia, Giáo phận Lipa - Đức ông Thomas Q. Avenido, Tổng Đại diện giáo phận Dumaguete, đại diện cho Đức cha Epifanio Surban.
 
2 vị Malaysia: Đức cha Michel Olcomendy, người Pháp, Tổng Giám mục Giáo phận Malacca-Singapore - Đức cha Phanxico Chang, Giám mục Pénang.
 
2 vị Hàn quốc: Đức cha Phaolo Ro, Giám mục Giáo phận Colbasa - Đức cha
 
Bartholomeo Kim, Giám mục Giáo phận Chonju.
 
2 vị Thái Lan: Đức cha Pierre Carreto, Giám mục Giáo phận Rajabury - Đức ông John Gordon, đại diện cho Đức Khâm sứ tại Thái Lan và Malaysia.
 
2 vị Lào: Đức cha Stephano Loosdregt, Giám mục giáo phận Vientiane - Đức cha Jean Arnaud, Giám mục Giáo phận Thakhek.
 
2 vị Indonesia: Đức cha Adriano Djajasepoetra, Giám mục giáo phận Jakarta và cha thư ký - Đức ông Gaetano Alibrandi, Sứ thần Tòa thánh tại Indonêsia.
 
1 vị Trung hoa: Đức cha Phaolo Yu-Pin, Cựu Tổng Giám mục Giáo phận Nam Kinh.
 
1 vị Pháp: Đức cha Jean Rupp, Giám mục phó Paris.
 
1 vị Campuchia: Đức cha Gustave Raballand, Giám mục giáo phận Nam Vang.
 
1 vị Hongkong: Đức cha Loresso Bianchi, Giám mục giáo phận Hongkong.
 
1 vị Macao: Đức cha Policarpo Da Costa Vaz, Giám mục giáo phận Macao và cha thư ký.
 
[113] Tông sắc VENERABILIUM NOSTRORUM ngày 24.11.1960 được công bố tại Việt Nam ngày 08.12.1960 và đăng trong Acta Apostolicae Sedis năm 1961, số 7 ra ngày 01.07.1961, trang 346-350.
 
[114] Sylloge preacipiorum documentorum recentium Summorum Pontificum et S.C de Prop. Fide, Urbaniana I, Roma, Typis Polyglottis Vaticanis 1939, tr. 118.
 
[115] Jacques-Charles de Brisacier, Vie de Mgr La Motte Lambert, Evêque de Béryte, P.1: Famile, École, AMEP, Vol. 122.
 
[116] X. Lm Phêrô Nguyễn Thanh Tùng, Lịch sử thành lập Hàng giáo phẩm Việt Nam, Nxb Tôn Giáo 2010, tr 261-266.

Tác giả bài viết: Lm. Phêrô Nguyễn Thanh Tùng

Nguồn tin: hdgmvietnam.com


 
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

DC VC NVB Tach nen
BÀI VIẾT ĐƯỢC QUAN TÂM
THÁNH CA
HỌC HỎI LỜI CHÚA
  •   Đang truy cập 100
  •   Máy chủ tìm kiếm 5
  •   Khách viếng thăm 95
 
  •   Hôm nay 3,534
  •   Tháng hiện tại 349,100
  •   Tổng lượt truy cập 75,978,605