| Bài Giảng Chúa Nhật Thường Niên 15- Năm C |
| Cập nhật: 09/07/2010 15:00 (GMT +7) |
CHÚA NHẬT THỨ 15 THƯỜNG NIÊN – NĂM C “Ai là anh em của tôi? Tôi là anh em của ai?” Trong quan niệm của một số người, “nên thánh” có nghĩa là phải làm những điều lớn lao, vượt xa những hoạt động của đời thường. Họ nghĩ rằng “thánh thiêng” thì phải cách biệt với “trần tục”, nên rất cao xa khó tầm với của những con người đang sống trong “cõi người ta”. Ông Môi-sen đã điều chỉnh quan niệm này khi ông nói với người Do Thái: Mệnh lệnh tôi truyền cho anh em hôm nay không vượt quá tầm tay anh em... cũng không ở trên trời hay bên kia đại dương, nhưng ở rất gần anh em, ngay trong miệng, trong lòng anh em để anh em đem ra thực hành (Bài đọc I). Như thế, Lời Chúa luôn vang lên tận nơi sâu thẳm của linh hồn chúng ta. Lời Chúa cũng không phải một mớ lý thuyết vô hồn, nhưng là những lời khuyên cụ thể, những hướng dẫn thiết thực cho mọi hành động trong cuộc sống hôm nay. Đức Giêsu đã cụ thể hoá những lời được nói tới trong sách Đệ Nhị Luật bằng một dụ ngôn. Đây là một trong những áng văn chương tuyệt đẹp của Tân ước, được Thánh Lu-ca ghi lại. Những thính giả có mặt hôm đó và những độc giả sau này đều được mời gọi tự vấn lương tâm: “Ai là anh em của tôi? tôi là anh em của ai?”. Thánh Lu-ca nói rõ là người thông luật “muốn thử Đức Giêsu”. Vào lúc ông muốn đặt một câu hỏi cho Chúa Giêsu, thì chính Người lại muốn ông đưa ra câu trả lời. Ông muốn hỏi Đức Giêsu: “Ai là anh em của tôi?”, nhưng Đức Giêsu lại muốn ông tự đặt câu hỏi cho mình: Tôi là anh em của ai. Tôi có cố gắng sống để trở nên anh em của mọi người xung quanh không? Hay là tôi coi mình như trung tâm vũ trụ, là chuẩn mực cho mọi người khác?. Tin Mừng cho thấy có nhiều người đi ngang qua người bị nạn, nhưng xem ra họ không quan tâm đến một người dở sống dở chết bên đường. Có thể họ vịn nhiều lý do: tránh ô uế (theo luật Do Thái, chạm tới xác chết sẽ bị nhơ uế); vì bận công việc; vì không có thời gian; vì không có mối liên hệ; vì nhiều lý do khác nữa. Có hai người được nhắc đến đích danh trong vụ việc người bị thương: một thày tư tế và một thày Lê-vi. Hai người này thường rất tỉ mỉ về việc tuân giữ Luật Chúa, xem ra lại trễ nải trong việc bác ái đối với tha nhân. Những chi tiết này chứng minh cho điều được nói ở trên đây: mệnh lệnh của Chúa không phải chỉ là những lý thuyết suông, nhưng là những thực hành cụ thể, đối với những người cụ thể đang cùng chung sống trong môi trường xung quanh. Lời Chúa cũng thức tỉnh chúng ta trong quan niệm về “tha nhân”, nhất là giúp chúng ta tránh cái nhìn kỳ thị. Đối với quan niệm thông thường thời Đức Giêsu, những người Sa-ma-ri-a bị người Do Thái khinh miệt như “phường vô đạo”. Họ không bao giờ tiếp xúc với người Sa-ma-ri-a. Cuộc tiếp xúc của Đức Giêsu với người phụ nữ Sa-ma-ri-a bên bờ giếng Gia-cóp là một thứ “phá lệ”, gây ngạc nhiên cho nhiều người, ngay cả với các môn đệ (x.Ga 4). Với giáo huấn của Đức Giêsu, mọi người đều được Chúa yêu thương. Hết thảy đều là anh chị em với nhau và có bổn phận đối với nhau trong cuộc sống này. “Ông hãy đi và hãy làm như vậy!”, với lời kết luận dụ ngôn, Đức Giêsu mời gọi chúng ta hãy cụ thể hóa đức tin trong cuộc sống thường ngày. Hãy nhìn quanh ta có biết bao cơ hội để sống Lời Chúa. Hãy làm bạn với tất cả mọi người để cuộc sống này trở nên nhân ái và dễ thương hơn. +Gm Giuse Vũ Văn Thiên |
|
|
| CÁC TIN LIÊN QUAN |
