Giáo Phận Hải Phòng

http://gphaiphong.org


Giải viết văn đường trường 2017: Bản tin 06

​Sau đây mời quý vị và các bạn thưởng thức tiếp 7 truyện mới, vừa qua vòng sơ loại, và cũng là mời tiến vào bầu khí mới mẻ của cuộc gặp gỡ trong yêu thương giữa các môn đệ Chúa Cứu Thế Giêsu Kitô.
 
 
 
GIẢI VIẾT VĂN ĐƯỜNG TRƯỜNG 2017
BẢN TIN 06
 
Thưa quí độc giả và quí tác giả,

Vào cuối thời gian hạn định nhận bài của Giải Viết Văn Đường Trường năm nay, chủ đề hiệp nhất các Kitô hữu, cụ thể là giữa Tin lành và Công giáo đang trở thành chủ đề ‘nóng’. Có những tác giả cho đến lúc này mới thấy đây là vấn đề rất đáng quan tâm. Có những tác giả bắt đầu nhận thấy muốn viết được phải nhập cuộc, không thể ngồi yên tưởng tượng rồi dựng truyện, và đã tạo dựng được những chi tiết đáng khích lệ. Lúc đầu họ ngập ngừng trước những thách đố của đức tin, nhưng rồi chính sự cọ xát với niềm xác tín của những anh chị em có những điểm nhấn đáng học hỏi, đã lôi cuốn họ, khiến họ phải cựa mình để đổi mới và lớn lên. Họ có dịp thể hiện hành trình đại kết của chính mình.
Một tác giả đã gửi một truyện khá hay với lời chia sẻ: “Thú thực với Cha là từ khi có chủ đề cuộc thi, từ tháng 9/2016 đến nay con đã có tiếp xúc “một cách có chừng mực” với một số người theo đạo Tinh lành ở Hà Nội, là bởi vì ngay từ ban đầu con đã thấy sự hấp dẫn rất lớn từ đạo Tin lành. Một người mà nền tảng giáo lý yếu kém, lại lười nhác không chịu khó bồi đắp theo năm tháng như con, đã bị lung lay dữ dội trước những lý luận sắc bén của người bên phía Tin lành. Đặc biệt là những tín điều về các phép Bí tích, về sứ vụ  truyền giáo của người Kitô hữu… thì con không tranh luận được với họ, nên nỗi sợ “lạc giáo” của con cũng không khác bao nhiêu so với nhân vật chính trong truyện ngắn mà con viết. Con cũng ngần ngại phát triển và đi sâu thêm là bởi con cũng tự thấy truyện này “nghiêng về phía Tin lành” lắm rồi! Mặc dù “ta” với “họ” cùng một Đức tin, một Thiên Chúa là Cha nhưng con vẫn cảm thấy mình có lỗi khi nhiều lúc con nghiêng về bên “họ”, vậy nên con không dám tiếp xúc với họ nhiều. Cũng may là những người theo Tin lành ở đây không tin những tín điều về Mẹ Maria, trong khi niềm tin  của con đối với Đức Mẹ xưa nay là không thỏa hiệp, là “bất khả thương nghị”, cho nên những người Tin lành hoàn toàn không thể lung lay được ý chí, niềm tin của con về vấn đề này. Nhưng con cũng cảm thấy băn khoăn, liệu con có ngả lòng về phía Tin lành hay không nếu con gặp gỡ những người thuộc những hệ phái Tin lành tin nhận những tín điều về Đức Mẹ?... Đây thực sự là lời xưng tội của con, xin Cha cho con thêm lời khuyên để sống đạo cho đúng, xin Cha thay mặt Chúa tha tội cho con”…
Có lẽ bạn này “xưng tội” nhưng chưa dốc lòng chừa tội, vì hình như vẫn đang tiếp tục các cuộc tiếp xúc để viết thêm một truyện nữa… Tôi có cảm tưởng những tác giả dấn thân vào đề tài này đang dùng chính kinh nghiệm của mình để minh họa điều Đức Thánh Cha Phanxicô viết trong Tông huấn Niềm Vui Tin Mừng:
“Vì vậy chúng ta hãy đi ra, đi ra để cống hiến cho mọi người sự sống của Chúa Giêsu Kitô. Ở đây tôi lặp lại cho toàn thể Hội thánh điều tôi từng nói cho các linh mục và giáo dân ở Buenos Aires: Tôi thà có một Hội thánh bị bầm dập, mang thương tích và nhơ nhuốc vì đi ra ngoài đường, hơn là một Hội Thánh ốm yếu vì bị giam hãm và bám víu vào sự an toàn của mình. Tôi không muốn một Hội thánh chỉ lo đặt mình vào trung tâm để rốt cuộc bị mắc kẹt trong một mạng lưới các nỗi ám ảnh và các thủ tục. Nếu có cái gì đáng phải khiến chúng ta trăn trở và áy náy lương tâm, thì đó chính là sự kiện nhiều anh chị em chúng ta đang sống mà không có sức mạnh, ánh sáng và niềm an ủi phát sinh từ tình bạn với Đức Giêsu Kitô, không có một cộng đoàn đức tin nâng đỡ họ, không tìm thấy ý nghĩa và mục tiêu trong đời. Tôi mong rằng, thay vì sợ đi lạc, chúng ta nên sợ bị giam hãm trong những cấu trúc làm cho chúng ta có một cảm giác an toàn giả tạo, những qui tắc biến chúng ta thành những quan toà tàn nhẫn, với những thói quen làm chúng ta cảm thấy an thân, trong khi ở ngoài cửa người ta đang chết đói và Đức Giêsu không ngừng nói với chúng ta: “Anh em hãy cho họ ăn đi!” (Mc 6:37)- (Tông huấn, số 49).
Có một chi tiết đáng để ý: Hầu hết các truyện đều có vai trò của Đức Maria, Mẹ Chúa Cứu Thế, Con Thiên Chúa. Trước mắt người phàm, hình như người phụ nữ này đã nên cớ cho nhiều anh chị em lìa bỏ Hội thánh Công giáo Rôma, thế nhưng trong thực tế và trong chương trình kín nhiệm của Thiên Chúa, chính bà đang nối kết những đứa em của Người Con đầu lòng bà đã sinh ra. Chính bà đang hàn gắn những vết thương lòng của những người con ấy. Phải chăng đó chỉ là một sự ngẫu nhiên trùng hợp khi cuộc thi Giải Viết Văn Đường Trường năm nay chọn hai sự kiện rời rạc cách nhau 400 năm làm chủ đề? Hình như còn có cái gì hơn thế…
Độ “nóng” của chủ đề còn lộ ra trong thư của một số tác giả, yêu cầu triển hạn nhận bài của cuộc thi, không phải vì cần có thêm giờ để viết mà, sâu xa hơn, cần có thêm chút thời gian để cảm nhận một kinh nghiệm còn khá mới mẻ trong cuộc lữ hành đức tin. Do đó, Ban Tổ chức quyết định cho gia hạn cuộc thi thêm 1 tháng rưỡi, và sẽ kết thúc việc nhận bài dự thi vào 00 giờ ngày 16-4-2017 thay vì 00 giờ ngày 01-3 như đã ghi trong thể lệ. Mong quý tác giả còn chưa hoàn thành kịp bài dự thi tiếp tục đào sâu suy nghĩ để có những truyện ngắn tốt nhất gởi dự thi.
Chúng tôi cũng xin được nhắc lại điều đã nói trong bản tin 03: Theo hướng góp phần xây dựng tình hiệp nhất, Giải Viết Văn Đường Trường lần V (2017) và lần VI (2018) rất mong được đón nhận tác phẩm của các bạn trẻ Tin lành.

Sau đây mời quý vị và các bạn thưởng thức tiếp 7 truyện mới, vừa qua vòng sơ loại, và cũng là mời tiến vào bầu khí mới mẻ của cuộc gặp gỡ trong yêu thương giữa các môn đệ Chúa Cứu Thế Giêsu Kitô.

Qui Nhơn, ngày 01-03-2017
Lm Trăng Thập Tự Võ Tá Khánh

 
BÀI DỰ THI
 
Mã số: 17-049
 

THẦY ƠI, EM YÊU ANH!

 
Vừa xong việc, tôi vội vàng chạy đến nhà thờ giáo xứ gần chỗ làm để tham dự thánh lễ chiều thứ bảy thay cho thánh lễ Chúa Nhật, vì ngày mai tôi phải đi công tác từ sáng sớm. Tôi thầm nghĩ, nếu biết tôi theo đạo và ngoan đạo thế này, chắc Sơn sẽ vui lắm. Tôi mỉm cười khi bước vào nhà thờ, nhưng khi thấy thấp thoáng một bóng dáng cao gầy quen thuộc đang đứng gần cung thánh, bỗng nhiên toàn thân bắt đầu lạnh toát. Ngơ ngẩn đứng nhìn kĩ hơn, tôi xác định đó chính là người mà tôi đã cố công tìm kiếm và chờ đợi suốt ba năm qua. Tôi bàng hoàng choáng váng. Trời đất xung quanh tôi quay cuồng, tối mịt. Không lẽ những điều bạn bè nói về Sơn là đúng sao? Sơn thực sự đi tu? Và tôi không còn hy vọng nào nữa sao? Sự chờ đợi và trông ngóng của tôi trở nên vô nghĩa và vô ích? Tôi như chết lặng, quờ quạng đi đến chỗ ngồi gần đó, cố lấy lại bình tĩnh…
Thấy dáng vẻ liêu xiêu, mặt mày tái mét của tôi, chị ngồi kế bên quay sang hỏi nhỏ: “Em có sao không?”. Tôi hít thở sâu, nhún vai trả lời: “Cám ơn chị, em không sao!”. Tôi đứng, ngồi, quỳ, thưa đáp trong thánh lễ hôm đó như người mất hồn, đầu óc miên man suy nghĩ một cách vô định. Thì ra, một trong những thầy dòng sẽ về giúp xứ mà cha xứ thông báo tuần trước chính là Sơn.
*  *  *
Bảy năm trước, tôi và Sơn học chung lớp ở trường đại học. Thấy Sơn hiền lành, tinh tế, nhẹ nhàng từ cách ăn nói cho đến lối cư xử, tôi quý mến Sơn dễ dàng và tự nhiên. Tuy ban đầu vẫn còn e  ngại, nhưng dần dần sau một thời gian học chung, làm việc nhóm, chúng tôi có nhiều cơ hội tiếp xúc với nhau và trở thành bạn bè thân thiết.
Ban đầu, câu chuyện giữa chúng tôi chủ yếu là việc học hành và chuyện về quê hương của mỗi đứa. Tôi đến từ miền Tây sông nước, còn Sơn đến từ miền Trung xa xôi, hai miền đất xa nhau với nhiều đặc trưng khác nhau đem lại cho chúng tôi nhiều ngạc nhiên thú vị. Về sau, chúng tôi hàn huyên tâm sự về đủ mọi chuyện trên đời. Sơn là người không có khiếu ăn nói, nhưng lại biết lắng nghe với sự thấu cảm sâu sắc. Những lúc phiền muộn, tôi luôn tìm đến Sơn để nói lên hết những tâm sự, những buồn bực của mình. Chính thái độ lắng nghe đầy thông cảm của Sơn an ủi tôi và làm cho nỗi buồn của tôi vơi đi rất nhiều. Tôi rất trân trọng điều đó.
Khi đã thân thiết hơn, mặc dù biết tôi không phải là người Công giáo, Sơn vẫn thường rủ tôi đi lễ nhà thờ. Lúc đầu vì tò mò mà tôi đi, nhưng về sau, mỗi khi đến nhà thờ như vậy, tôi cảm thấy một sự nhẹ nhàng, thanh thản, bình yên. Tôi thích nhìn Sơn nghiêm trang làm dấu Thánh giá, mắt lim dim thầm thì những lời kinh, cảnh tượng đó làm cho tôi vui vui. Sơn đặc biệt yêu quý Đức Mẹ, nên luôn dành thời gian để đứng trước các tượng Đức Mẹ với một thái độ đầy hiếu kính và thành khẩn. Sơn còn hay giải thích cho tôi về đạo Công giáo, nhờ vậy, tôi không còn hiểu sai về đạo nữa. Đôi khi chúng tôi đến nhà thờ ngoài các giờ lễ, chỉ để nói chuyện với nhau. Có những lúc, đặc biệt khi có chuyện buồn hay căng thẳng vì học hành, chính tôi lại rủ Sơn đi nhà thờ.
Theo thời gian, tôi nhận thấy tình cảm Sơn dành cho tôi không dừng lại ở tình bạn thuần tuý, nhưng bởi vì Sơn rụt rè, e ngại nên tình cảm ấy được thể hiện qua sự quan tâm đặc biệt, cho dù giản dị, thầm lặng, tinh tế nhưng rất thực tâm và chân thành. Tuy Sơn không nói, nhưng tôi vẫn nhận ra Sơn yêu tôi. Tôi cũng rất quý mến Sơn, nhưng tình cảm tôi dành cho Sơn không phải tình yêu. Đối với tôi lúc đó, tình yêu phải là một điều gì đó độc đáo hơn, mãnh liệt hơn, nhiều cảm xúc dâng trào hơn. Trong khi tôi với Sơn chỉ trải qua những ngày tháng êm đềm, nhẹ nhàng, bình dị, đều đặn. Tôi vẫn còn mộng tưởng và trông chờ một tình yêu theo những gì tôi tự nghĩ ra, tôi đọc trong truyện hay xem trên phim ảnh. Với lại lúc đó tôi vẫn còn ham chơi, vẫn muốn tự do để tiếp tục học hành và đầu tư cho sự nghiệp tương lai.
Khoảng một tháng trước khi ra trường, có lần Sơn hỏi tôi sau một hồi lâu đắn đo suy nghĩ: “Uyên có muốn theo đạo không?”. Tôi mỉm cười: “Để làm gì?”. Thay vì trả lời, Sơn lại hỏi tiếp: “Nếu yêu người có đạo, Uyên sẽ theo đạo để làm đám cưới với người đó chứ?”. Tôi trả lời thẳng thắn: “Hai việc đó khác nhau mà, không thể theo đạo chỉ để lấy chồng”. Im lặng một lúc, tôi lại nói thêm: “Nhưng Uyên sẽ không yêu người có đạo đâu, rắc rối lắm!”. Sơn nói thật khẽ: “Sơn biết rồi”. Sau đó là tiếng thở dài, Sơn gượng cười rồi tiếp tục im lặng. Trong tháng cuối cùng ấy, Sơn không còn vui vẻ nữa, thay vào đó là khuôn mặt đăm chiêu như đang dự tính điều gì đó quan trọng. Tôi cảm thấy áy náy về việc này, nhưng không biết làm sao.
Trước ngày tốt nghiệp, Sơn hẹn gặp tôi trong một quán nước quen thuộc gần trường. Không khí giữa chúng tôi vẫn trầm lặng, nặng nề như nghẹt thở. Tôi cảm thấy không thoải mái lắm trong bầu khí này, tôi cũng không biết nói gì. Để phá tan bầu khí tĩnh mịch ấy, Sơn hỏi tôi một điều mà Sơn đã biết: “Uyên được giữ lại trường làm trợ giảng và học tiếp lên thạc sĩ phải không?”- “Đúng rồi, còn Sơn có dự định gì?”, tôi hỏi lại. Sơn không nói, ánh mắt nhìn xa xăm, tôi nhẫn nại chờ đợi câu trả lời. Một lát sau Sơn thở dài rồi nói: “Sơn có một chương trình riêng, sẽ đi xa, nhưng không biết tới đâu, nên Sơn không dám nói trước”. Rồi Sơn đưa cho tôi một phong thư mỏng, bảo tôi: “Sau khi tốt nghiệp, Uyên mới được mở ra đọc nha! Uyên hứa nha!”. Tôi đưa tay cầm và trả lời: “Ừm, Uyên hứa!”.
Chờ cho đến buổi tối của ngày tốt nghiệp, tôi mới mở phong thư Sơn trao như đã hứa. Trong đó, một mảnh giấy nhỏ được ghi bằng nét chữ nắn nót cẩn thận, cứng rắn, vỏn vẹn một câu: “Uyên! Anh yêu em!”. Tôi không ngạc nhiên về điều đó, vì tôi đã nhận ra tình ý của Sơn trong thời gian gần đây. Và rồi tôi không thể liên lạc với Sơn được nữa. Tôi nghĩ Sơn đi xa để thực hiện ước mơ của mình, còn tôi thì lao vào việc học tiếp lên thạc sĩ cũng như bắt đầu làm việc tại trường. Tôi bước sang chặng đường đời mới mà không có Sơn bên cạnh.
***
Sau một thời gian, tôi bắt đầu cảm thấy lòng mình trống trải do thiếu vắng Sơn. Lúc đầu chỉ là một cảm giác hụt hẫng, nhưng dần dần khoảng trống Sơn để lại cứ lớn lên không ngừng. Những giây phút ở bên Sơn, những gì Sơn dành cho tôi trước đây tôi xem là bình thường, thì giờ đây lại là điều tôi cảm thấy quý giá vô cùng khiến tôi mong mỏi, khát khao. Tôi hẹn hò với một vài bạn nam, dù thực sự cố gắng nhưng chúng tôi không thể nào tiến xa hơn. Những gì đã trải qua với Sơn khiến tôi luôn đưa Sơn ra để so sánh. Và thật là đáng tiếc, không ai có thể so sánh với Sơn từ sự tinh tế trong cư xử, tính cách hiền hoà, hay sự thấu cảm sâu sắc…
Những lúc buồn phiền, mệt mỏi, tôi càng mong muốn có Sơn hơn bao giờ hết. Tôi quay quắt tiếc nuối và nhớ thương Sơn da diết. Hình bóng Sơn luôn ở trong tâm trí tôi. Tôi đi tìm Sơn trong vô vọng nơi những con đường chúng tôi hay đi, những công viên, nhà sách, quán nước và đặc biệt là những nhà thờ mà tôi và Sơn thường đến. Nhưng tôi thấy rất lạ, mỗi khi ngồi trong nhà thờ hay trước tượng Đức Mẹ, tôi cảm thấy yên bình và như được an ủi rất nhiều. Và khi rời nhà thờ, tôi cảm thấy lòng nguôi ngoai hơn, nhẹ nhàng hơn, do đó tôi thường xuyên đến nhà thờ hơn.
Năm ngoái, thấy bảng thông báo mở lớp giáo lý dự tòng ở nhà thờ Kỳ Đồng, tôi ghi danh tham gia. Lúc đó, tôi muốn học để giết thời gian và cũng để tìm kiếm Sơn một cách nào đó, chứ tôi chưa có ý định theo đạo. Trước đây, được Sơn giải thích về đạo khá nhiều, nên tôi đã nắm bắt những điều giáo lý căn bản. Các cha và các giảng viên ở lớp giáo lý dự tòng đánh giá cao những hiểu biết sẵn có của tôi. Trong lớp học, tôi còn được hướng dẫn cầu nguyện một cách sâu sắc hơn, đức tin của tôi được khơi gợi và phát triển. Tôi gặp được Chúa, được sự nâng đỡ ủi an của Mẹ Maria. Sau khi được rửa tội, tôi tiếp tục tăng trưởng trong đời sống đức tin.
Dù không còn quay quắt đau đớn và dằn vặt, tôi vẫn luôn đợi trông Sơn, mong Sơn trở lại. Tôi không ngừng cầu nguyện về điều này. Tôi tiếp tục dò la tin tức về Sơn qua các bạn bè. Nhưng ngay cả những bạn thân nhất của Sơn cũng chỉ biết loáng thoáng là Sơn đi tu. Bạn khác thì biết Sơn ở Nha Trang. Tôi thầm cầu mong những điều đó là không đúng.
***
Và hôm nay tôi tình cờ nhìn thấy Sơn trong chiếc áo chùng thâm, lòng tôi bối rối khôn tả. Lúc này tôi phải làm gì đây? Đến gặp Sơn và thổ lộ hết tình cảm của mình? Nhưng như vậy để làm gì? Tôi yêu Sơn thật đó, nhưng không phải vì thế mà tôi ích kỉ muốn Sơn bỏ áo dòng để cưới tôi. Và liệu rằng Sơn còn yêu tôi không? Còn nếu lặng lẽ bỏ đi thì tôi không đành lòng, tôi đã chờ đợi quá lâu. Tôi vẫn cứ miên man suy nghĩ như vậy cho đến khi đi lên rước lễ.
Tôi tìm kiếm và đi đến chỗ Sơn đang trao Mình Thánh Chúa, hồi hộp chờ đợi, bàn tay ướt đẫm, hơi thở gấp, tim đập thình thịch như muốn vỡ tung cả lồng ngực. Tôi chờ cho đến khi biết chắc rằng không còn ai lên rước lễ nữa, tôi mới đứng vào hàng để làm người cuối cùng bước lên. Đứng trước Sơn, cố giữ bình tĩnh, tỏ ra mạnh mẽ, tôi ngước mắt nhìn thẳng vào Sơn. Sơn giật mình khi nhìn thấy tôi, khựng lại, dừng tay đang cầm Mình Thánh Chúa. Thấy nét mặt vui nhưng đầy vẻ ngạc nhiên của Sơn, tôi nói thầm nhưng cũng rõ tiếng đủ nghe: “Sơn! Em yêu anh!”. Sơn nhíu mày tỏ vẻ bối rối. Tôi quay người bước đi như không có chuyện gì xảy ra.
Về lại chỗ ngồi, tôi mất hết kiểm soát, như quả bóng được bơm căng, nay bị tác động bởi một vật nhọn, nên nó bùng nổ. Nước mắt chảy dài, thấy mình không thể chịu đựng thêm được nữa, tôi vội vàng ra khỏi nhà thờ, dẫn xe ra, nổ máy chạy đi, mà không biết đi đâu. Tôi cảm thấy mình đang trốn chạy. Tôi tự hỏi liệu rằng tôi có thể trốn chạy cả đời sao? Có chắc rằng tôi sẽ không bao giờ gặp lại Sơn như hôm nay? Tôi biết tôi có thể gặp lại Sơn, và thực sự tôi rất muốn gặp Sơn. Tôi sẽ gặp Sơn, nhưng không phải lúc này.
 
 
Mã số: 17-050
 

ĐIỂM TỰA

Hạ Vy không nén được nước mắt chạy vội ra khỏi phòng trọ. Trúc Linh và Thi Thảo nghẹn ngào nhìn nhau rồi tắt vội tivi mới phát xong đoạn quảng cáo của Neptune với câu slogan ý nghĩa: “Tết là phải về nhà”.
Hạ Vy đứng quay mặt vào tường, tay bịt miệng vì cô không muốn nỗi buồn khóc thành tiếng và cô không muốn hai bạn cô nhìn thấy mình khóc. Nỗi thổn thức của cô sinh viên lần đầu tiên không về quê ăn tết ai cũng biết là tủi thương rồi. Nhưng cô không muốn các bạn nhìn thấy cô khóc bởi vì Vy đã nói với  hai bạn mình rằng:“Năm nay ăn tết xa nhà để xem ta trưởng thành hay chưa?”,và Vy mãn nguyện với lập luận ấy. Sự trưởng thành của con người sao có thể cân đo bởi chuyện ăn tết ở nhà hay xa nhà được. Vy biết thế, Trúc Linh và Thi Thảo cũng biết thế. Mà thôi kệ, ai cũng biết một câu nói bâng quơ có khi cũng chỉ để làm lu mờ đi nỗi buồn muốn giấu kín hay phủ lấp đi khoảng trống cô đơn mà không muốn ai phát hiện. Chuyện về quê, chuyện tiền, chuyện vé xe, chuyện trở vào luôn là nỗi nghẹn ngào của những sinh viên nghèo rời quê hương vào Nam đi học và đó cũng là nỗi khổ cực canh cánh trong tim của bậc làm cha làm mẹ, của những phận đời mà chữ nghèo đeo bám mãi chẳng buông tha.
Trúc Linh đứng sau lưng Hạ Vy từ lâu rồi nhưng không lên tiếng. Cô xoay người, lưng dựa vào tường, mắt nhìn trời rồi buông tiếng thở dài nói:
- Ở quê tau, mấy bữa ni đi chợ tết vui lắm…
Cái giọng miền trung nằng nặng cộng thêm khoảng lặng của không gian làm giọt lệ chực tràn, chợt lăn vội.
Thi Thảo ngồi bệt ở thềm hiên, chẳng nhìn Trúc Linh, nhưng trách vội:
- Mi nói rứa làm chi cho hắn thêm buồn. Mà… tau cũng buồn nữa.
Tiếng thút thít, những dòng lệ ướt bờ mi, thấm gò má và thấm cả vành môi. Nước mắt rơi cũng  làm vơi đi sự tủi khổ.
Hạ Vy lấy hai tay lau vội dòng nước mắt rồi quát lớn:
- Khóc lóc cái gì! Chỉ là chuyện không về nhà ăn tết thôi mà. Chuyện đó mà cũng làm cho ba cô nàng xinh đẹp nhất trần gian khóc lóc thảm thiết sao? Thôi, vui lên nào. Tối nay sau khi tan lễ, tỉ tỉ sẽ mời hai muội đi ăn mì cay. Khóc thì chỉ vì cay quá mà chảy nước mắt thôi. Được chưa?
Nói xong, Hạ Vy chợt thổn thức lòng tự nhủ thầm: Cái cay của vị giác sao cay bằng vị cay lòng! Trúc Linh và Thi Thảo vẫn chưa hết chảy nước mắt nhưng cũng bật cười vì thái độ “kiếm hiệp”của nhỏ Hạ Vy. Tuy Hạ Vy nhỏ tuổi hơn hai cô bạn cùng phòng trọ nhưng có một quy luật bất thành văn mà do chính nhỏ để ra là: Ai mở miệng nói chuyện trước thì người đó là chị. Trúc Linh và Thi Thảo tất nhiên sẽ chẳng đồng ý với luận điệu trên, nhưng mà cũng kệ, có khi cũng vui nên cứ để quy luật ấy sống mãi theo thời gian.
Trúc Linh nhân cơ hội thừa nước đục thả câu, liền thêm vào:
- Mì cay thôi chưa đủ, mà phải thêm trà sữa và bánh tráng trộn nữa.
Hạ Vy tay chống nạnh, răng cắn chặt môi, mắt mở to nhìn thẳng Trúc Linh gằn từng tiếng:
- Vừa vừa thôi cô nương, ngân khố của tỉ tỉ có hạn.
Thi Thảo vừa cười vừa ho sặc sụa cố lên tiếng:
- Chuyện trà sữa, bánh tráng trộn để tỉ tỉ lo cho, chỉ sợ ba cô nàng xinh đẹp sẽ nằm bẹp dí ở phòng trọ trong mấy ngày tết vì đau bụng mà thôi.
Cả ba nhìn nhau cười. Mặt trời cuối chiều đẹp mĩ miều một màu đỏ ửng nhưng cũng thật buồn.
Trong ba đứa, quê của Hạ Vy là xa nhất, mãi Ninh Bình, tận một xóm vắng của một miền đồi núi nghèo và khổ. Ở đó, quanh năm người ta chỉ biết bán mặt cho đất, bán lưng cho trời. Cả cuộc đời họ chỉ quẩn quanh với dăm ba sào ruộng, trong nhà nuôi thêm dăm ba con gà. Ở đó, cái gió và cái mưa chẳng mấy ai ưa cứ thay nhau kéo về làm khổ. Người ta mang trong lòng ước mong mưa thuận gió hòa để may ra được mùa, để trong nhà có ít gạo, ít khoai, để kéo dài ngày sống. Những đứa trẻ lớn lên ở đây gầy nhom và đen đủi vì cả ngày chúng phụ mẹ, phụ cha chăn bò, chăn trâu. Tuổi thơ luôn là đầu trần phơi nắng, tắm suối, tắm sông và long nhong với những trò chơi dân gian đậm tình làng nghĩa xóm. Ở đó nhà nào khá lắm mới cho con đi học với ước mong sau này con mình chẳng phải khổ như mẹ như cha.
Gia đình Vy nghèo. Nhà có bốn đứa con song cha mẹ Vy cố bòn  từng chút một, tích góp, dành dụm cho hai chị em Vy ăn học cho bằng bạn  bằng bè, cho có nghề có nghiệp, cho thoát khỏi kiếp nghèo. Ngày ra đi, Vy đã dặn lòng sẽ dốc sức học hành, để thành nhân, thành danh để trong một tương lai gần có thể về báo hiếu cha mẹ. Ngày Vy đi, ngoài những gì mang theo là vật chất, Vy còn cất vào tim lời dặn dò của cha mẹ: “Nhớ đi lễ, đọc kinh, nhớ rằng mình là người Công giáo, sống đạo bằng tình thương”. Ngày lên đường, Mẹ nhét vào áo Vy chuỗi hạt Mân Côi có mùi mồ hôi của mẹ.
---//\\---
Hạ Vy đứng dưới mái hiên của nhà thờ. Cô đang chờ hai bạn đang cầu nguyện ở trong. Trời vào xuân, nhưng cái lạnh của tiết trời Đà Lạt vẫn thấu da thấu thịt. Không gian tĩnh mịch lất phất một vài cơn mưa phùn làm khung cảnh của buổi chiều cuối năm sao mang một chút man mác buồn.
Hạ Vy siết chặt vòng tay, mắt hướng về tượng đài Đức Mẹ thầm nguyện khẽ:
- Lạy Mẹ Maria, tết năm nay con xa nhà. Con không ăn tết với bố mẹ con được. Mẹ biết mà, quê con ở xa, tiền đi lại tốn kém quá, nếu con về quê rồi trở vào tốn biết bao nhiêu tiền Mẹ ạ! Bố mẹ con vất vả, gia đình con lại nghèo. Thực sự con không muốn đeo thêm một gánh nặng vào cổ cha mẹ con. Tết năm nay con ở lại. Con sẽ đi làm, để kiếm thêm chút tiền trang trải cuộc sống của con.  Mẹ ơi! Con nguyện xin rằng,xin cho bố mẹ con khỏe mạnh, thân nhân con bình an. Con thèm tết ở quê con ngập tràn tiếng cười nói rôm rả. Con nhớ bố mẹ và các em con, Mẹ ơi!
Hạ Vy thấy nơi lồng ngực nghẹn ứ. Hai dòng lệ cứ thế lăn dài trên gò má. Nỗi xót xa đứa con tết không thể về. Mẹ ơi, có thấu không?
Hạ Vy đưa tay lau khô dòng lệ. Mặc kệ ngoài kia trời đang lất phất mưa nhưng cô vẫn quyết định ra đứng dưới chân Đức Mẹ. Ngước mắt lên và nguyện khẽ:
- Mẹ ơi! Xin làm vơi nỗi nhớ của bố mẹ và các em con nhớ về con… - Giọt nước mắt chực tràn khẽ lăn vội. Tiếng nấc chơi vơi giữa khung trời vắng lặng. - Con mong thời gian ni trôi đi thật nhanh, Mẹ ạ! Để tất cả những ai không thể đoàn viên với gia đình tìm lại được bình yên trong lòng nhanh chóng.
Hạ Vy chưa cầu nguyện xong thì đã nghe vọng tiếng của Trúc Linh và Thi Thảo.
- Mi bị chi rứa? Điên hay răng mà đứng ngoài mưa rứa? Mi khóc à? - Thi Thảo đặt tay lên vai bạn mình hỏi.
- Có khóc đâu! Nước mưa thôi. - Hạ Vy xoay người để che giấu cảm xúc.
- Có… đâu! - Trúc  Linh cố nhại lại giọng miền bắc của Hạ Vy rồi cúi người nhìn thẳng vào mắt của bạn mình. 
- Hai mắt đỏ hoe mà bày đặt.
Trúc Linh khịt khịt mũi, đưa hai tay che mắt, mỉm cười.
Lòng Hạ Vy nghĩ gì, chẳng lẽ Trúc Linh và Thi Thảo không biết. Khi tết càng gần, phố phường vắng tanh bởi mọi người về quê đón tết. Thì hơn ai hết, những người ở lại phải là những người thấu hiểu nhau hơn cả. Lòng nhớ mẹ, thương cha, thương gia đình, họ hàng có thể đem giấu ở đâu cho người ta khỏi biết. Nỗi thổn thức ấy, chất đầy trong lời nguyện xin cho gia đình an bình, cha mẹ khang an, họ hàng khỏe mạnh, cho các em lớn khỏe chăm ngoan. Nguyện ước ấy cũng chất đầy trong những khóe mắt chực tràn giọt lệ rồi thấm mặn bờ môi của kiếp người xa xứ và có khi nó chảy ngược vào trong tim.
 Trúc Linh cố tìm cách giải tỏa bầu không khí:
- Thôi đi về nhà, tỉ tỉ sẽ làm món côca pha với sữa mà tỉ tỉ mới học được sáng nay ở chỗ làm thêm. Phải nói là ngon hết ý.
- Thôi, thôi, thôi… - Thi Thảo chắp tay lạy lạy cô bạn đồng hương. - Cả ngày hôm nay Thảo ta đây bị Tào Tháo rượt mệt gần chết cũng vì mấy cái món chết tiệt trà sữa, bánh tráng trộn, mì cay tối qua đã đọa đày thân xác. Sợ lắm rồi! Sợ lắm rồi!
Hạ Vy không nhịn được cười xen vào:
- Tớ cũng bị đau bụng như cậu. Mệt chết! Tưởng tết được thảnh thơi, ai ngờ cả ngày ở chỗ làm phải xin đi mua thuốc thang uống cho đỡ.
Trúc Linh cố thanh minh:
- Tại Hạ Vy mà, chiều qua nó đề nghị chuyện đi chơi mà.
Cả ba  lặng thinh một hồi rồi Trúc Linh lên tiếng:
- Thôi được rồi, tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng, được chưa? Cãi nhau làm chi cho mệt. Tau có ý ni, để kết năm cũ, đón chào năm mới và để giúp nhau vơi đi nỗi lòng, tau đề nghị tối đi thức khuya đón giao thừa tụi mình sẽ uống bia và ăn snake.
Thi Thảo và Hạ Vy tròn mắt nhìn Trúc Linh. Vì từ lúc quen cô nàng đến bây giờ, chưa bao giờ hai cô thấy Linh hào khí đến như vậy. Trúc Linh nổi tiếng ở khoa và ở dãy trọ là ngoan hiền, đạo đức, chuẩn mực, nết na. Vậy mà giờ đây, Linh dám đề nghị Thi Thảo và Hạ Vy “nhậu”.
Hạ Vy chẳng máy mắt nhìn Trúc Linh nói:
- Gấu vậy? Làm thiệt hả?
Trúc Linh nhún vai, đưa ngón tay cắn cắn vào răng rồi nói lí nhí:
- Mỗi người một lon thôi mà.
Xem ra đây là cách tốt nhất để bật ra khỏi đầu Hạ Vy cái ý tưởng coca-sữa  chết tiệt. Thi Thảo duyệt ý định của Trúc Linh vì còn một suy nghĩ cao cả hơn. Tối nay giao thừa, bật nắp khai xuân theo quảng cáo trên tivi mà cô xem được.
Đây sẽ lần đầu tiên ba cô nàng đón tết xa nhà và cũng là lần đầu tiên ba “thanh tiên tóc dài” thử vai “nâng chén tiêu sầu”. Tối nay, Trúc Linh, Hạ Vy, Thi Thảo sẽ nghêu ngao ca hát.Cả ba sẽ thức đón giao thừa, sẽ chúc nhau năm mới và sẽ nói tiếng lòng trong men say và đôi khi là để dễ ngủ trong cái đêm tình máu mủ như quyện chặt nhớ thương.
--//\\---
Đà Lạt, sáng mồng một tết, cái rét của buổi sáng tinh sương làm người ta khó mà bước ra khỏi giường. Nhưng hôm nay là ngày đầu năm mới, sự khoan khái, mau lẹ hứa hẹn những tháng ngày suôn sẻ. Đầu xuôi đuôi lọt mà.
Hạ Vy bật dậy, đưa tay làm dấu thánh giá rồi cầu nguyện, đây là nhân đức, là thói quen tốt lành từ nhỏ của cô mà chưa bao giờ Vy bỏ cả. Gấp gọn xong chăn gối, cô đến bồn rửa mặt, nhận thấy mắt mình sưng húp vì những gì diễn ra tối qua.  Vy đưa tay xoa xoa thái dương và cau mày vì cơn đau đầu ập đến bởi tác dụng của men bia mang lại. Dẫu thế, cô vẫn bật cười một mình vì thái độ “liều” của cả ba nhưng cũng thầm cảm tạ Chúa đã gửi đến cho cô những người bạn để lắng nghe, sẻ chia và nâng đỡ cô trong những lúc khó khăn và buồn tủi nhất.
Trúc Linh và Thi Thảo vẫn đang ngủ say. Tư thế ngủ của hai cô bạn đến từ Nghệ An làm Hạ Vy bật cười. Dẫu có trong tư thế nào, Hạ Vy vẫn tin rằng, hai bạn cô đang có giấc ngủ ngon và giấc mơ đẹp, có thể là giấc mơ đoàn viên bên gia đình, họ hàng vui tết.
Rón rén, nhẹ nhàng bước ra khoảng sân trước nhà, Hạ Vy lấy điện thoại bấm số gọi cho gia đình. Tiếng chuông chờ của điện thoại làm tim cô hồi hôp và nghẹn ứ. Đây đâu phải là lần đầu tiên cô gọi cho gia đình nhưng sao có một nỗi nghẹn ngào khó diễn tả. Phải chăng đó là nỗi xót xa, tủi thân hay là nỗi nhớ nhà da diết.
- Alô! Vy con! Con sao rồi?
Dòng lệ nơi khoé mắt của cô chực trào, nỗi nghẹn ngào xâm chiếm.
- Alô! Vy, con sao thế?
Hạ Vy đưa tay quẹt nước mắt, nén lòng rồi cười nói:
- Con đây mẹ? Con không sao cả, chỉ là… là… do trong kia người ta  mừng tết cười nói ồn quá nên con ra đây để nghe cho rõ. À! Mẹ ơi, con chúc tuổi mẹ, chúc mẹ sức khoẻ, bình an và luôn ngập tràn ân sủng Chúa.
Hạ Vy nghe tiếng nói của bố và các em, cô biết mẹ đang bật loa ngoài, Vy nói tiếp:
- Con chúc bố… Chị chúc các em…- Cô cố nói thật to, giọng thật cao để cố che lấp đi nỗi nghẹn ngào chực thành tiếng.
- Vy à! Tết năm nay không có con ở nhà, bố mẹ và các em còn đâu vui tết. Mẹ biết, con cô đơn và tủi thân lắm.
Hạ Vy cố phân bua:
- Đâu có, ở đây đông người và vui lắm, con được mọi người yêu thương và còn được lì xì nữa. Mẹ biết mà, vì hợp đồng công việc nên con phải ở lại, chứ chẳng phải vì… Mà thôi, Mẹ đừng lo cho con, con lớn rồi, con tự chăm sóc bản thân được mà.
Hạ Vy cố nói thật nhiều, kể thật nhiều để mong làm an lòng mẹ cha nơi xứ xa đang thương nhớ cô.
- Vy à! Cho dẫu có khó khăn thế nào đi nữa, buồn tủi thế nào đi nữa, dẫu cho bố mẹ không ở gần con thì con luôn nhớ có Chúa và Đức Mẹ luôn đồng hành và nâng đỡ con. Nhớ chưa? Con còn giữ chuỗi hạt Mân Côi mẹ đưa cho con không?
- Dạ có, con vẫn luôn mang nó trên mình.- Hạ Vy đưa tay sờ lên chuỗi hạt đeo ở cổ.
- Con à! Đừng chỉ mang nó trên mình như một trang sức, như một vật tô điểm cho con, mà hãy luôn lần hạt, hãy làm đẹp cho linh hồn con, nha Vy!
- Dạ!
- Bố mẹ và các em mỗi tối vẫn luôn lần hạt cầu nguyện cho con. Hãy để chuỗi hạt Mân Côi nối kết chúng ta trong lời cầu nguyện con nhé! Vy, bố mẹ và các em mừng con bước sang một tuổi mới.
- Cảm ơn mẹ, con sẽ làm như lời mẹ dặn. Mẹ và cả nhà gắng giữ gìn sức khoẻ, cho con gửi lời chào thăm và chúc tết đến mọi người trong họ hàng mẹ nhé!
- Ừ! Cả nhà yêu con. Nhớ luôn gọi điện cho mẹ nhé!
- Dạ! Cả nhà ăn tết vui. Con chào mẹ.
Hạ Vy cúp máy, đưa tay áp chuỗi hạt mân côi có hình Chúa và Đức Mẹ vào lồng ngực. Cô cảm nhận một sự bình an xâm chiếm lòng mình vì  cô biết Chúa và Đức Mẹ luôn ở bên cô  và gia đình luôn ở  bên cô trong lời cầu nguyện. Cho dẫu có xa cách bởi khoảng cách địa lý nhưng những gì bền chặt nhất, thiêng liêng nhất và nồng ấm nhất lại sống mãi khi chúng ta nghĩ về nhau, đặc biệt hơn là khi cầu nguyện cho nhau.
Hạ Vy lau khô dòng lệ, mặc kệ hai cô bạn cùng phòng có than phiền vì bị đánh thức, mặc kệ tiết trời lạnh căm, Vy muốn cô và các bạn sẽ đón tết cùng Chúa và Mẹ Maria trong thánh lễ đầu năm, vì cô thân tín rằng: Chúa và Đức Mẹ là điểm tựa tuyệt vời nhất.
 
 
Mã số: 17-052
 

NGƯỜI CON GÁI TIN LÀNH

Một hành động, dù nhỏ đều có thể đem đến những kết quả không ngờ. Khi đăng ký học tiếng Nhật, tôi chỉ nghĩ đơn giản biết thêm một ngoại ngữ thì cơ hội nghề nghiệp sẽ mở rộng hơn. Tôi nào lường trước được quyết định ấy lại dẫn tôi tới một chân trời mới và khiến tôi thay đổi nhiều như thế.
Tôi ghi danh và đóng tiền giữ chỗ tại một trường Nhật ngữ gần nhà. Ngày nhập học, tôi vào phòng quản lý, hỏi chị hướng dẫn mình học ở lớp nào. “Phòng ba trăm lẻ hai, dãy C, lớp cô Hà”, chị nói, “phía tay phải cổng vào đó em”. Theo lời chị, tôi leo hết hai bậc cầu thang thì đến nơi. Trong lớp cô Hà và năm bạn khác đang nói chuyện gì đó. Tôi chào mọi người, ngồi xuống một bàn trống. Mở đầu cô Hà cho cả lớp giới thiệu bản thân bằng những câu tiếng Nhật đơn giản. Đôi khi ngồi nhớ lại ngày đầu tiên tôi vẫn hay thắc mắc tại sao Trân, người con gái sau này sẽ khắc sâu bóng hình trong tâm khảm tôi, lại không gây cho tôi ấn tượng gì nhiều ngoài một cô sinh viên có thân hình cao dong dỏng.
Vốn nhát người lạ nên tôi ngại làm quen các bạn. Mãi gần một tháng sau tôi tình cờ được ngồi chung với Trân. Hôm đó tôi đến trễ, còn em ngồi một mình ở bàn thứ hai. Hầu như hai đứa chẳng mở miệng với nhau lời nào, cho đến khi Trân bâng quơ chỉ vào tập: “Chữ này trông giống nhóc Miko quá nè! Anh có biết nhóc Miko không?”. Tôi hỏi lại: “Có phải truyện tranh cô bé Miko nhí nhảnh học lớp năm không?” - “Đúng rồi đó anh, truyện dễ thương ha?” - “Ừ, công nhận đọc buồn cười thiệt”. Hóa ra Trân có cùng sở thích giống tôi. Cuối buổi cô Hà còn dạy chúng tôi hát bài “Silent Night” phiên bản tiếng Nhật để mừng Giáng Sinh đang cận kề. Cô mời một bạn lên hát trước lớp. Trân xung phong. Em hát rất đúng lời cùng chất giọng cao, thánh thót. Ngồi dưới, tôi đoán thầm Trân có thể theo đạo Chúa nên khi em xuống tôi liền gặng hỏi. Em bảo em người Tin lành. Nghe xong tôi chưng hửng. Là người Công giáo, từ tấm bé tôi đã nghe một số người lớn nói người Tin lành không tôn kính và cầu nguyện cùng Đức Mẹ Maria. Với tôi mà nói, Mẹ Maria có một vị trí vô cùng đặc biệt. Mẹ là Mẹ của Chúa Giêsu, Mẹ thông ơn Thiên Chuá, Mẹ có đức hạnh tuyệt vời và đồng trinh suốt cuộc đời. Sau khi Chúa Giêsu lên trời, chính Mẹ Maria đã dùng sức lực, phẩm chất và những lời cầu nguyện để nâng đỡ Giáo hội sơ khai. Mẹ còn hiện ra ở rất nhiều nơi nhằm soi sáng và giúp đỡ chúng ta. Tất cả chứng tỏ Mẹ Maria là một bậc Thánh cao cả. Bản thân tôi tôn sùng và cầu nguyện với Mẹ đều đặn. Nhìn nhận như vậy nên tôi không có thiện cảm với người Tin lành, mà Trân lại là người Tin lành đầu tiên tôi gặp trong đời. Ác cảm? Chắc không đâu, nhưng tôi có chút e dè ban đầu với em. Thấy tôi hỏi xong có biểu hiện khang khác, Trân băn khoăn: “Sao mặt anh bí xị vậy?”. Tôi tếu táo rằng hình như tôi đã bị thôi miên sau khi nghe tiếng hát của nàng tiên cá. Trân cười.
Chơi với Trân mới biết em đáng yêu. Nhưng song song nét tinh nghịch em luôn chưng ra thì trong Trân còn tồn tại một con người khác rất sâu sắc và hóm hỉnh. Em học giỏi nhất lớp. Tôi hỏi em bí quyết thì em nửa đùa nửa thật: “Anh cứ xem Anime nhiều vô”. Em còn khoe em thi đại học đạt chín điểm môn văn, và tôi tất nhiên, cảm thấy thú vị.
- Thiệt không đó? Hay là nổ như pháo hoa?- Tôi tỏ vẻ nghi ngờ.
- Thiệt mà anh.
- Giỏi dữ hen!
- Anh quá khen!- Em vừa nói vừa cười tự đắc- A, hình như không phải vậy…- Rồi đột nhiên như sực nhớ ra điều gì, em làm mặt rầu rĩ, vỗ vai tôi và chớp chớp mắt- Sorry anh nghen, em nhớ nhầm, chưa được chín đâu, có…tám bảy lăm à!
Biết mình bị chơi xỏ nhưng tôi vẫn cố giữ bình tĩnh: “Thật thà quá ha!”.
- Chứ sao! Đã nói là phải nói cho chính xác.- Chữ “xác” cuối câu em mở rộng miệng và ngân dài.
- Em làm gì giỏi văn vậy?- Tôi hỏi.
- Đọc sách đó anh! Anh cứ đọc nhiều dzô, bảo đảm anh sẽ giỏi văn y như em.
- Anh có đọc sách bao giờ đâu, em biết cuốn nào hay giới thiệu cho anh đi?
- Nhiều lắm, để em nhớ lại coi.- Trân dừng đôi ba giây rồi tiếp tục- À, anh đọc cuốn “Mùi Hương” chưa?
- Chưa!- Tôi trả lời tức thì- Tựa sách gì lạ hoắc!
- Vậy để bữa sau em đem cho anh mượn nha?
- Cám ơn em.
Tôi đọc cuốn Mùi Hương cực kỳ khó nhọc. Cố gắng lắm tôi mới qua được phân nửa rồi đành buông xuôi. Không hiểu sao em đưa cuốn này cho người mới bắt đầu đọc như tôi? Chỉ đến khi sinh nhật em, tôi mới nhận ra đó không chỉ là một cuốn sách em cho mượn đơn thuần mà còn như một lời ẩn ý em dành cho tôi. Thế là ngày em tròn hai mươi mốt tuổi, tôi tặng em một lọ nước hoa nho nhỏ. Nhận được quà, em cám ơn tôi ríu rít. Và mỗi chúng tôi đều thích thú tự ngầm hiểu rằng “Mùi Hương” đã không còn nằm trên những trang sách.
Dù trêu đùa nhau suốt nhưng tôi chưa bao giờ thấy Trân cư xử thiếu lễ độ để tôi phải mất lòng. Kể cả lúc nhắn tin hay tức giận, em vẫn giữ lời nói mực thước. Tôi còn nhớ lần em chạy xe về, đường thì đông, nhưng thoáng thấy người quen lớn tuổi chạy cùng mình, em liền gật đầu: “Con chào chú Hoan!”.
Lớp chúng tôi trở nên thân thiết theo thời gian, đến độ cứ sau mỗi buổi học tất cả lại kéo nhau đi ăn uống. Lúc đầu đám chúng tôi chọn các món Nhật, nhiều nhất là Takoyaki. Dăm bữa chán chuyển qua bột chiên, chè sữa bánh flan, xiên que hay món khoái khẩu của Trân, phá lấu. Mọi người hợp gu nhau lắm, ăn nói rôm rả, chả khác nào những bữa tiệc nhộn nhịp. Duy những lúc bàn tới đề tài tâm linh thì có mâu thuẫn xảy ra, tiếc thay những nhân vật chính lại là tôi và Trân.
- Anh thấy mấy ông Mục sư cứ sao sao…-Tôi lên tiếng- Đã đành là người giảng Lời Chúa, chăn dắt bầy chiên mà lại lấy vợ. Làm như vậy lấy ai mà tôn trọng?
- Đâu có luật nào không cho các Mục sư lấy vợ đâu? Kinh Thánh không hề cấm.- Trân cau mày- Các Tông đồ của Chúa Giêsu có người vẫn lấy vợ sinh con bình thường. Mà sao anh không nghĩ làm như vậy nghĩa là các Mục sư khiêm tốn xem bản thân họ bình đẳng với mọi người.
- Với anh đã theo Chúa thì phải hy sinh cá nhân mà phục vụ.
- Các Linh mục thì em không nắm rõ nhưng em biết có những Mục sư ngày ngày vẫn thầm lặng hy sinh cho Chúa, họ sống rất tốt đẹp, luôn giúp đỡ người khác.
- Anh vẫn thấy họ không xứng đáng.
- Anh nhìn chủ quan quá! Chỉ vì một điều còn đang tranh cãi mà anh gạt bỏ tất cả mọi điều còn lại.
- Em nói sao?...
Hai đứa tranh luận nảy lửa, không ai chịu thua ai. Những người xung quanh nín thinh, nhìn chúng tôi ngao ngán biến không khí thành ra ngột ngạt, căng thẳng. Vì tôi lớn nên các bạn bắt tôi xuống nước. Nhận thấy có tiếp tục cũng không đi đến đâu nên tôi thường chọn cách dĩ hòa vi quý cho xong chuyện, dù thực lòng chẳng muốn vậy.
Song, nếu gạt vấn đề trên qua một bên thì tôi và Trân khá tương đồng nhau, nhất là ngoại hình. Cả hai đứa đều gầy rộc và cao một mét bảy. Riêng Trân là con gái, thành thử em trông không khác gì một người mẫu. Nhưng hẳn nhiên, đánh giá vẻ đẹp của em như thế quả là thiếu sót, và cũng là thiệt thòi lớn cho các độc giả của tôi nếu tôi không kể cho các bạn nghe về khoảng khắc tôi bị em hớp hồn, diễn ra vào một đêm mưa rả rích sau khi chúng tôi đã tan học và cùng đứng đợi mưa dưới mái hiên trường.
Trân đứng bên trái tôi. Thường ngày em chuộng lối thời trang năng động nhưng riêng đêm đó lại rất truyền thống. Em mặc quần tây, khoác áo sơ mi trắng trông đã sờn, chân xỏ một đôi hài màu đỏ trầu và đeo ba lô sau lưng. Gương mặt em hao hao hình chữ v nhưng tròn trịa chứ không góc cạnh. Tóc em dài và xẽ giữa, để xõa như hai thác nước tuôn trào xuống đôi bờ vai mảnh. Hai gò má trắng hồng, cân đối. Cặp mắt chứa chan tình cảm, được tô đậm thêm bởi hai bọng mắt hiện rõ mồn một hễ khi em cười.
Tôi than thở cùng em về những cơn mưa ở đất này đã làm tôi khổ như thế nào. Chúng bất chợt, đỏng đảnh như cô gái vào xuân. Không ít lần tôi phải đội mưa về nhà. Nước ngập đường. Người ướt nhem. Xe chết máy, dắt bộ bì bõm. Hôm sau lỗ mũi sụt sùi. Cảm. Nghỉ làm. Mất tiền oan. Em nghe và cảm thông với nỗi niềm của tôi nhưng cho rằng mưa này chẳng thấm vào đâu so với những cơn mưa ở quê ngoại em. “Ở Huế lắm khi mưa cả tuần chưa dứt, anh nhìn bên ngoài có thể không thấy giọt mưa nào nhưng cứ bước ra đường là lát sau anh thành chuột lột”. Khi đã mở được lòng, em tâm sự rằng em không khéo tay và làm nội trợ tương đối dở. Lại mắc cái tật hay mất đồ. Trong năm đầu đại học em đã làm mất áo khoác, ví tiền, hộp bút và cả thẻ sinh viên. Hai chúng tôi cứ thế huyên thuyên hết chuyện này đến chuyện khác. Tôi thích nhất đoạn em hứa tết này nếu có về Huế em sẽ mang cho tôi một ít kẹo mè xửng làm quà.
Sau một hồi dốc gần như cạn lời, tôi và Trân im lặng, nhường chỗ cho mấy con dế dũi kêu ồm ộp và tiếng mưa đập xuống mái tôn lộp độp. Ánh đèn từ dãy phòng còn học hắt ra leo lét càng làm không gian thêm mờ ảo. Rồi thì cảnh tượng ấy cũng xuất hiện. Phải đến một phút, em đứng thẳng, người im thin thít, hệt như một pho tượng. Tay phải em đặt ngang trước ngực nắm lấy cùi chỏ tay trái đang duỗi xuôi theo người. Môi hơi bặm lại. Gió vờn vài lọn tóc sau lưng bay nhè nhẹ. Em đăm đăm tầm mắt, không những chạm mà chắc hẳn còn đâm xuyên qua đám cây no nước, ra tới tận đường lộ. Khóe mi hoàn toàn bất động và đồng tử mắt trầm mặc, hầu như muốn trút cạn cuộc đời vào một khoảnh khắc duy nhất. Ánh nhìn ấy ám ảnh tôi đêm ngày: đẹp tựa đang mơ, như làn sương mờ, gợi sầu thương nhớ, tuy cứng rắn hơn tơ mà mong manh dễ vỡ, trăn trở quyện luyện ngây thơ, xác xơ đong đầy rạng rỡ… Giá mà lúc đó tôi có một chiếc máy ảnh thì hay biết bao!
* * *
Chúng tôi đón thêm một Giáng Sinh nữa thì khóa học kết thúc. Trước khi nghỉ, cô Hà ráo riết cho chúng tôi ôn tập để thi lấy chứng chỉ. Buổi học cuối cô chúc cả lớp làm bài tốt, còn chúng tôi đứa nào đứa nấy cũng bịn rịn trong lòng. Thi xong ba tháng là có kết quả. Trân đậu, ngược lại tôi trượt. Cũng hợp lý thôi: Trân có năng lực thật sự còn tôi ôn bài không đến nơi đến chốn. Sau bận ấy, cả lớp tản mác mỗi người một nơi và không còn gặp nhau. Mọi người, chắc cũng bận.
Tôi vẫn giữ liên lạc với Trân qua mạng xã hội, nhờ đó tôi có thể biết được em đang làm gì, sống ra sao. Chúng tôi cũng trò chuyện trên mạng, tất nhiên không bằng ngoài đời nhưng có cái thú riêng. Trong một lần như thế, Trân bất ngờ mời tôi “đi nhóm” ở nhà nhờ Tin lành chung với em một buổi. Thoạt đầu tôi có hơi lưỡng lự nhưng phần muốn đi cho biết, phần vì muốn gặp em nên tôi đồng ý và hỏi Trân thời gian, địa điểm. “Nhà thờ Tin lành A. Bình Dương, bảy giờ bốn mươi lăm sáng chủ nhật nhé anh”, em nhắn. Trước giờ tôi cứ nghĩ Trân đi nhóm ở nhà thờ chỗ chúng tôi chứ không phải xa như vậy nên tôi bán tín bán nghi: “Sao không đi ở đây cho gần, xuống tít Bình Dương chi vậy em?”. Em trả lời mơ hồ: “Anh cứ đến nha, em sẽ giải thích sau”. Dù nghi hoặc nhưng tôi biết Trân không lường gạt ai bao giờ, vả lại đi xa chút chẳng tổn hại gì nên tôi cũng yên tâm sửa soạn cho lần đầu tiên đặt chân vào nhà thờ Tin lành.
Tôi đến đúng giờ như đã hẹn. Sau khi gửi xe trong khuôn viên, tôi gọi điện cho Trân. Em từ trong thánh đường ra đón tôi, trên người khoác một tà áo dài màu hồng đậm, trông đằm thắm hơn mọi khi. Tôi ngẩn ngơ nhìn em. Như bắt được suy nghĩ của tôi, em chỉ vào bộ phục trang: “Ba mẹ em bắt em mặc đó, anh thấy sao?”. Tôi dịu dàng: “Em mặc áo dài nhìn đẹp lắm!”. Trân đỏ mặt, kéo tôi vô trong. Vừa đi tôi vừa quan sát mấy cái cây trồng hai bên lối dẫn: chúng thưa lá và đủng đỉnh trước gió. Nhà thờ bên ngoài được sơn trắng, mặt tiền đính một cây thánh giá trơn - không có Chúa Giêsu khổ nạn - trên nóc kèm hình quyển kinh thánh lật mở phía dưới; bên trong có hai hàng ghế, loa và rèm cửa cố định trên tường cao, phía bục thuyết giảng có một giỏ hoa, hai ba cây micro, một đàn piano, thánh giá phát quang treo ở trung tâm ngay dưới hàng chữ “Tôn Vinh Đức Chúa Trời”, và đặc biệt, chẳng có một bức tượng hay tranh ảnh nào cả.
Tôi và Trân ngồi hàng ghế tay phải. Buổi nhóm nhanh chóng bắt đầu bằng lời của một vị Mục sư chào mừng và cầu nguyện dâng chương trình lên cho Chúa. Cả nhà thờ đều chăm chú lắng nghe. Suốt buổi nhóm tôi yên lặng theo dõi, còn các nghi thức tôi không tham dự. Tôi rất ấn tượng về phần giảng Lời Chúa do chính vị Mục sư ban nãy thực hiện với chủ đề “Trung tín”. Ông nói đầy xúc cảm, đưa ra nhiều dẫn chứng thuyết phục. Tay ông vung lên khi muốn nhấn mạnh hay quả quyết một điều gì. Lâu lâu đến đoạn quan trọng ông ngắt câu, ngưng nói, mắt hướng thẳng một điểm cố định để cử tọa có thời gian tập trung và nắm bắt vấn đề sâu hơn. Gần cuối vị Mục sư còn làm một lễ nghi giống như Bí tích Rửa tội bên Công giáo cho một người mới tin nhận Chúa. Buổi nhóm khép lại trong trang nghiêm và hân hoan của tất cả các tín hữu.
Mọi người lần lượt ra về. Cũng có người ở lại thăm hỏi nhau hoặc sinh hoạt nhóm. Tôi và Trân nán lại nguyên chỗ. Em hỏi tôi thấy Mục sư thuyết giảng như thế nào? Tôi khen là rất chuyên nghiệp và có sức thu hút mãnh liệt. Đợi cho tôi nói xong hết, em mới thản nhiên làm tôi sốc: “Ba em đó!”. Tôi “hả” một tiếng, quay sang nhìn Trân chằm chằm. Tỏ ra không quan tâm hành động của tôi, em nói tiếp: “Ba em hiền lắm, ổng là Mục sư quản nhiệm nhà thờ chỗ mình, thời gian này trên đây thiếu người nên ổng lên giúp”. Tôi ngạc nhiên sao em gọi ba mình bằng ổng, em giải thích là em quen rồi, nói với bạn bè cho vui chứ không có ý gì. “Có hôm khuya lắc ổng còn chạy xe từ nhà lên đây. Đối với ba em niềm vui lớn nhất là có thêm người tin nhận Chúa”. Từ sốc tôi chuyển sang bần thần, trong khi Trân vẫn rót vào tai tôi những lời hồn nhiên, mà càng rót tôi càng thấy mình giống một tội nhân.
Tâm tình thêm ít phút thì tôi ngỏ ý rủ Trân đi ăn. Em đồng ý nhưng phải xin phép ba mẹ em trước. Cuối cùng Trân cũng đi được với điều kiện tôi phải chở em về nhà thay quần áo trước đã.
Do phá lấu không bán ban ngày nên tôi đưa Trân đến một quán chuyên về các món vịt. Chúng tôi chọn một bàn ngoài trời dưới tán một cái cây lớn và gọi món. Nhân viên quán phục vụ rất chu đáo nên chẳng mấy chốc hai đứa đã khai cuộc. Trân khen thịt vịt luộc mềm tơi và nước mắm gừng đậm đà. Em kể gia đình em cuối tuần nào cũng đi ăn ngoài. Rồi hai đứa nhắc nhau nhớ về những người bạn trong lớp và các kỷ niệm. Cuộc vui chỉ tạm thời gián đoạn và nghiêm túc hơn khi tôi thốt lên điều tôi đau đáu hàng năm trời qua:
- Em có tin vào quyền năng của Mẹ Maria không?
Trân khựng lại hồi lâu, như lựa từ ngữ để thành lời. Em đáp:
- Em hiểu anh đang muốn đề cập đến vấn đề gì. Em rất tôn kính Mẹ Maria. Nhưng anh cũng biết có những thứ em không được lựa chọn. Nếu em sống trong môi trường giống anh, tiếp thu một giáo lý giống anh thì em cũng yêu quý Mẹ Maria như anh. Đức tin nơi Mẹ Maria là một điểm tựa tinh thần vững chắc cho anh trước sóng gió cuộc đời. Hơn nữa, anh còn được Mẹ che chở và ban nhiều Hồng ân. Có thước thì kẻ đường thẳng dễ hơn, nhưng đừng vì thế mà anh ỷ lại. Có những người không biết Mẹ nhưng họ sống đúng theo lời Mẹ thì chắc chắn Mẹ cũng yêu thương họ. Đâu phải ai nói “Lạy Chúa, Lạy Chúa” là được vào thiên đàng hết đâu, người Samari xứng đáng có sự sống đời đời hơn thầy tư tế thấy người bị nạn mà không cứu, phút chót sẽ có người từ cuối hàng lên đầu hàng và người đứng đầu phải xuống cuối. Chúng ta còn may mắn vì dù anh và em đang đi trên hai con đường khác nhau, nhưng đích đến thì chỉ có một; và đường nào thì cũng dạy chúng ta sống yêu thương tử tế cả thôi.
Trân dứt câu thì tôi đâm sững sờ vì không nghĩ là em có thể nói được như vậy. Tôi xuýt xoa:
- Woa! Em biết nhiều Kinh Thánh nhỉ?
- Cũng bình thường thôi anh. Nhờ ba em dạy đó. Tối nếu em không làm gì thì ba em hay bắt em “đấu” Kinh Thánh với ổng?
- Ai thắng?- Tôi hỏi nhanh.
- Lúc đầu em nói được mấy câu, lúc sau toàn ngồi nghe không à.
Chúng tôi cùng cười vì sự lém lỉnh của Trân. Đột ngột tôi nhìn thẳng vào mắt em, và với giọng ngượng ngùng, tôi hỏi tiếp:
- Trân này, về những con đường ấy… Anh phải làm gì để có thể đi chung đường với em?
- Tất cả mọi người đều tự do dưới bàn tay Thiên Chúa.- Trân điềm nhiên- Nhưng nếu anh và em muốn đi cùng nhau, chúng ta phải hạ thấp cái tôi của mình xuống và mở lòng lắng nghe người kia. Anh cũng như em phải đặt mình vào vị trí của người còn lại. Chỉ bằng thấu hiểu chúng ta mới giúp nhau nhanh tới đích hơn. Tốt nhất nên bắt đầu từ một vài điểm chung của hai đứa như truyện tranh, bóng rổ… Và một khi đã đi chung đường không phải là người này phục tùng người kia, không phải cứ răm rắp làm theo, mà là tôn trọng và bổ trợ lẫn nhau. Anh vẫn là anh, em vẫn là em, nhưng hai ta là một.
Nói xong Trân đăm chiêu, tôi cũng xa xăm.
Giống như đêm mưa trước, bầu trời yên ắng lại bao phủ xung quanh chúng tôi. Chỉ thay đổi là lần này Trân ngồi đối diện tôi và hoạt bát hơn hẳn. Bỗng tôi nhận ra ở em có điều gì đó thật khác lạ mà tôi không biết diễn tả sao cho đúng? Dường như tóc em mềm mại hơn, môi em tươi tắn hơn, bàn tay em thon thả hơn và mắt em long lanh hơn. Nhưng có thật là em khác? Hay tôi khác? Hay chăng hoa hồng đã tỏa ngát hương trong lòng tôi rồi sao? Trong phút chốc tôi ngỡ như mình đang ở một góc nào đó của vườn địa đàng, nơi thời gian không còn tồn tại và không gian là vô định, nơi con người ta chỉ giao tiếp với nhau bằng tâm tưởng. Rồi tựa đóa hướng dương bừng sáng, em nhìn tôi cười thẹn thùng trong khi những giọt nắng vẫn mải miết soi qua các kẻ lá, lấm tấm đậu trên mặt bàn.
* * *
Tôi nhận được tin Trân đi du học Nhật Bản nửa năm sau buổi nhóm. Ngày em lên máy bay, tôi không ra tiễn. Từ đó chúng tôi cũng ít liên lạc. Tôi biết mình đã yêu em và tiếc nuối tại sao không bày tỏ cho em biết. Dẫu vậy, nói gì thì nói tôi vẫn phải để Trân sống cuộc đời của riêng em.
Giờ đây cùng chiếc tàu bay hiện đại, em đã mang trái tim tôi đến với đất nước mà em vẫn ao ước được đặt chân tới. Nhưng tình yêu tôi dành cho em có là gì đâu so với tình yêu em để lại cho tôi, tình yêu giúp tôi vượt lên trên hết mọi sự khác biệt để tìm ra tiếng nói chung giữa hai con người.
 
 
Mã số: 17-053
 

MẸ DẪN CON VỀ

 
Những bậc cầu thang của Tu viện dường như không hiện hữu trước mắt Thủy. Hai bàn chân vẫn đặt những bước vô duyên, hờ hững! Đôi mắt sâu thẳm nằm vừa vặn trên khuôn mặt ngờ nghệch đang xoáy sâu vào một không gian xa xôi nào đó, rất xa, nhưng lại rất thực và đặc quánh, bám chặt đến độ tâm trí nàng không thể thoát ra được! Không biết cái sức nặng quỷ quái đang siết chặt tâm trí nàng hay sự gan góc bướng bỉnh của những bậc thang khiến bước chân đôi khi không tới bến, Thủy loạng choạng lao người về phía trước. Hai tay quờ quạng đủ lấy lại thăng bằng. Nét mặt thoáng thay đổi, nhưng chẳng có gì quan trọng nên vội trở về như cũ, mặc kệ những bước chân tiếp tục bước lên một cách nặng nề. Ánh mắt lại xoáy theo tâm trí mất hút vào xa xăm…!  Thỉnh thoảng hai bàn tay giơ lên run run, môi mấp máy thều thào như cầu xin một điều gì đó. Có lúc mười đầu ngón tay bỗng trở nên gân guốc, rẽ tóc bám chặt vào da đầu như muốn cào, xé, vò nát cái gì đang siết chặt lấy tư tưởng của nàng một cách ghê sợ! Nàng cố gắng kéo mình về với thực tại, nhờ thế trên khuôn mặt vài tia máu màu hồng yếu ớt xuất hiện đuổi đi sự nhợt nhạt, nhưng lại lộ rõ vẻ đau khổ giằng xé. Ngay cả cái vẻ mặt đau đớn ấy cũng không ở với nàng lâu, nó nhanh chóng bị gạt đi và lại trở nên nhợt nhạt mất sức sống, hoàn toàn để mặc cho mọi thứ tư tưởng đối nghịch đua nhau xâu xé, giành giật, tất cả đều muốn lôi kéo, chiếm hữu trái tim, linh hồn và sự sống của nàng. Nàng giống như một con sâu nhỏ bị thương đang cố hết sức cong người lên, uốn éo, để chống lại đám kiến túm quanh mình, nhưng không thể, nó đành mặc kệ cho đám kiến khiêng mình đi…!
***
Vốn là một tu sĩ trẻ với nụ cười nồng hậu, tính cách chân thực, dịu dàng và tấm lòng nhân ái Thủy luôn dành được sự quý mến thương yêu của mọi người. Trong trái tim nặng tình ấy, Thủy tin yêu Chúa bằng một tình yêu rất chân thực, sâu sắc đến độ đôi khi nàng quên mất bản tính thiêng liêng của Thiên Chúa. Mỗi sớm mai thức dậy nàng hít thở làn khí trong lành, thanh tịnh và chìm mình trong sự thanh khiết bất tận của Thiên Chúa. Nàng cảm nhận tình yêu của Thiên Chúa tràn ngập khắp không gian, mơn man trên da thịt, thấm vào từng tia máu, bám theo từng hơi thở chui tuột vào xương tủy. Nàng dang rộng cánh tay như ôm lấy cả không gian bao la, vô cùng sảng khoái và hạnh phúc! Toàn thân nàng và mọi chi giác cùng cất lên lời tạ ơn Chúa!
Tu viện của nàng nằm ngay bên sườn một dãy núi, hơi thở rừng già hắt lên không gian một thứ lành lạnh man mát khiến người ta cảm thấy hối hận nếu dùng một lời nào đó để diễn tả sự kỳ diệu của Thượng Đế vào lúc này!
***
Từ ngày mới học Trung học Thủy đã có ý định sẽ chọn đời sống tu trì để phục vụ Chúa và Giáo hội của Người. Thủy yêu mến những buổi chia sẻ Lời Chúa và tích cực tham gia thăm viếng những người bệnh tật, cô nhi, quả phụ. Ý định này của Thủy được ba mẹ hết lòng ủng hộ, nhưng anh hai của Thủy thì lại không đồng ý vì anh biết cái tương lai thăm thẳm, bất định của đời tu mà không mấy ai dám liều buông mình vào đó.
- Đi tu sau này mà lỡ làng thì sao?- Anh Huy hỏi.
Thủy im lặng không biết trả lời anh thế nào, nhưng chỉ biết một niềm xác tín trong lòng rằng nàng nghe một tiếng mời gọi, nàng tin tưởng và rất yên tâm dù rằng tiếng nói ấy chẳng cho nàng hiểu được điều gì cả.
Thấy Thủy cương quyết và không tỏ dấu thay đổi, anh Huy không thêm ý kiến gì, khuôn  mặt đăm chiêu, lộ vẻ chưa thỏa đáng, nhưng vì thương em nên không muốn gây khó dễ cho em.
***
Thời gian thấm thoát trôi, Thủy rời mái trường và bước vào Tu viện trong niềm háo hức và ngập tràn hạnh phúc. Những ngày đầu ở môi trường mới để lại trong Thủy vô vàn kỷ niệm. Lớp Thủy vào nhập Dòng đông lắm, nhìn các bạn từ khắp nơi về sống cùng nhau dưới một mái nhà để khởi sự “thiên đàng chốn trần gian”, Thủy không giấu nổi niềm hạnh phúc, nàng cất tiếng hát:
“Ô kìa, nữ tử nhà những ai?
Đang tuổi xuân xanh hàng tóc dài.
Chợt nghe tiếng gọi chốn thiên thai.
Phù hoa nhân thế em bỏ lại.
Tạo lập thiên đàng giữa trần ai.”
Những ngày tháng êm đềm nơi Tu viện cho Thủy cảm nếm sự ngọt ngào thân thương của tình yêu Thiên Chúa. Tuy nhiên, cuộc sống ấy cũng cho nàng thấy mình còn nhiều giới hạn và yếu đuối. Nhưng càng thấy mình yếu đuối nàng càng gắn bó với Chúa nhiều hơn và luôn luôn nhớ lời dặn của mẹ trước khi lên đường. Nàng nguyện xin tình thương của Thiên Chúa thanh tẩy, thánh hóa mình mỗi ngày và thầm mong ước sẽ được ở trong nhà Chúa trọn đời.
- Lạy Chúa, con yêu Chúa! Cho dẫu con yếu đuối bất toàn và tình yêu của con mong manh tựa hồ hơi thở nhưng nồng nàn sự thật từ đáy lòng con. Xin Chúa yêu con và ấp ủ con bằng tình yêu nồng nàn của Chúa, để con không còn cảm thấy cô đơn hay sợ hãi, mà can đảm dâng trọn cuộc đời của con cho Chúa. Xin ban ơn Thánh Thần làm cho con nên tông đồ trung tín của Chúa. Amen!
Thủy khấn dòng trong tình yêu thương vô bờ của Chúa, chính nhờ tình yêu ấy mà Thủy can đảm dâng hiến con người mỏng giòn yếu đuối của mình trong tay Ngài.
***
- Ba tôi sao rồi, thưa Bác sĩ?
- Ông bị nhiễm trùng rất nặng và đã ở giai đoạn toàn phát. Chúng tôi sẽ chuyển ông đến khoa Hồi sức tích cực ngay bây giờ, thưa cô!
Bác sĩ vừa dứt lời thì hai nhân viên y tá đẩy chiếc giường ra khỏi phòng khám trong tư thế vội vã.
- Ba ơi…! Ba ơi…!
Tiếng gọi của Thủy chìm trong nỗi nghẹn ngào không nên lời. Ánh mắt không rời khỏi cha, Thủy chạy theo sau chiếc giường đang được đẩy vội qua các hành lang của bệnh viện. Một căn phòng rộng lớn với dòng chữ: “Hồi sức tích cực”. Cánh cửa kính đóng sập lại trước mặt Thủy sau câu nói vội của vị Bác sĩ: “Xin mời người thân ở bên ngoài!”. Thủy vẫn đứng lặng như tượng trước cánh cửa, cho tới khi một nhân viên bảo vệ vỗ vào vai Thủy và chỉ tay về phía những chiếc ghế đặt xung quanh phòng đợi.
Thủy ngồi thất thần trên chiếc ghế băng. Mọi thứ cảm xúc đau đớn, oán  hờn, hoang mang và bất lực chặt cứng tâm trí nàng, đè nặng trên vai nàng. Khiến đôi mắt nàng tuy mở to nhưng lại hoàn toàn vô cảm với thế giới xung quanh. Thủy cứ như thế cả mấy ngày nay, những lúc được vào thăm ba Thủy cũng chỉ ngồi bên cạnh ba như vậy. Ba vẫn chưa tỉnh!
-  Ai là người nhà của bệnh nhân Lê Văn Dũng?
- Dạ là tôi!
- Chúng tôi hết lòng xin lỗi cô và gia đình. Chúng tôi đã cố gắng hết khả năng nhưng không thể cải thiện tình trạng của ông. Sốt cao liên tục và hôn mê sâu có thể dẫn đến tử vong rất nhanh...
Bác sĩ chưa kịp nói hết câu mắt Thủy bỗng tối sập, không còn thấy gì nữa cho đến khi nàng cảm thấy đau nhói trên đỉnh đầu, nàng nhìn thấy lờ mờ một không gian quen thuộc. Có tiếng ồn ào ở đâu đó, nàng bất giác chồm dậy lao ra nhà ngoài, ôm chặt thân thể đã lạnh ngắt của ba trước sự xót xa của những người xung quanh… Ba...! Ba ơi...!!!
***
Trước đây, mỗi khi ba ốm thì Thủy xin phép Nhà Dòng đến viện phụ giúp anh hai chăm sóc ba, mọi việc nhà đã có mẹ lo lắng. Nhưng anh Huy vừa đột ngột qua đời trong một vụ tai nạn, mẹ Thủy vì quá xúc động hoảng loạn nên đã mất hẳn trí nhớ. Những ngày chăm sóc mẹ tại bệnh viện tâm thần, nhìn mẹ hết khóc lại cười lòng Thủy nát tan như mảnh giấy bị vò xé hàng trăm lần. Bất lực trước những cơn đau từng đêm của mẹ, nỗi đau cắn xé tâm hồn Thủy hơn bất cứ thứ gì! Thủy muốn xé tan tất cả những gì mắt nàng nhìn thấy để tìm kiếm một tiếng nói của Đấng Vô Hình. Đối với nàng sự ra đi của anh hai cũng chẳng khác nào một chiếc lưới đen chụp xuống tâm hồn. Nàng muốn hỏi Ngài hàng ngàn câu hỏi “tại sao…?” nhưng thinh không vẫn chỉ đáp lại thinh không, đau khổ càng thêm quặn thắt!
Trước những nỗi đau khốc liệt của gia đình nàng, không ai quan tâm đến cảm xúc của nàng. Tất cả mọi người đều nói chung một lời: “Em phải là chỗ dựa đức tin cho gia đình… Em không nên để cho nỗi buồn cá nhân ảnh hưởng đến cộng đoàn…”. Những lời nói ấy thật đúng nhưng cũng thật tàn nhẫn đối với nàng. Dường như cả Thiên Chúa cũng im lặng và quanh nàng chỉ toàn là tối tăm. Tất cả những gì nàng vẫn tin tưởng giờ đây trở thành mối nghi ngờ. Nàng nghi ngờ sự hiện hữu của Thiên Chúa, nàng nghi ngờ tình thương của Ngài, và nghi ngờ chính tiếng nói lương tâm vẫn hằng hướng dẫn, an ủi nàng trước đây. Nàng hoàn toàn hụt hẫng, chới với, cô đơn và đau khổ! Nàng muốn khóc mà không thể khóc được vì mỗi khi nước mắt nàng định trào ra và nàng muốn hét lên thì lại có điều gì đó ngăn lại. Nàng không thể khóc! Gồng mình để nén cơn đau vào lòng, từng đêm tay chân nàng run lên co quắp. Những lúc nàng cần nhất một sự chia sẻ thì chỉ nhận về một khoảng trống mênh mông. Nàng muốn xé tan cái màn đen dày đặc ấy. Nhưng làm sao mà xé được! Nàng đành để cho cơn đau dày vò, hai bàn tay nàng nắm chặt cho tới khi nỗi đau chìm xuống. Nàng càng cầu nguyện với Chúa về nỗi đau này thì nó càng gia tăng sức tàn phá. Tiếng lòng trước đây nàng vẫn tin tưởng giờ không đủ sức thuyết phục nàng nữa, nàng không muốn đón nhận tiếng an ủi của lương tâm nữa. Vì thế mỗi lần đối thoại với Thiên Chúa là mỗi lần nàng phải hứng chịu nỗi đau khổ tột cùng của sự trống rỗng, giằng co. Nàng có thể trút những cơn đau này ở đâu! Gia đình ư? Cộng đoàn ư? Không được. Nàng không thể làm cho mẹ phải đau đớn hơn nữa, nàng cũng không thể để cho nỗi đau cá nhân ảnh hưởng đến cộng đoàn. Luôn gạt đi mỗi khi nỗi đau nổi lên, giờ nàng dường như biến thành kẻ không biết đau khổ, không biết buồn phiền nữa rồi. Nàng không cần bất kỳ lời an ủi nào, và cũng không để ai phải thấy nàng buồn nữa. Nàng cũng không cần tìm kiếm thánh ý Chúa nữa. Nàng cảm thấy tương quan Giao Ước của mình với Chúa còn lỏng lẻo hơn cả cái quan hệ giữa những người tình cờ gặp nhau trong một chuyến tàu!
Nàng lao vào những  mối tình nhân loại để thách thức Thiên Chúa và Giao Ước với Ngài, vùi đầu trong mọi thứ công việc để gạt sang một bên tất cả những cay đắng, đau khổ, nàng muốn trốn tránh cái nhìn của Thiên Chúa luôn dõi theo nàng. Đời tu của nàng tưởng như yên lặng mà giờ đây cuộn sóng xô bồ, tưởng như bình an mà lại thương đau, tưởng như thánh thiện mà lại nhức nhối, tưởng như gặp gỡ Chúa mà lại trốn chạy Ngài, tưởng như quảng đại với Chúa mà lại chỉ yêu chính mình…! Nàng nghĩ rằng công việc sẽ giúp nàng quên đi tất cả và sự phản bội Giao Ước sẽ khiến Thiên Chúa từ bỏ nàng và nàng sẽ không phải giằng co mỗi khi đối diện với ánh mắt của Ngài nữa. Nhưng không. Đời tu không cho phép nàng như vậy. Tình yêu nàng dành cho Chúa vẫn còn đó và Chúa vẫn yêu nàng, lương tâm bắt nàng phải ghi nhớ điều này cho dù nàng oán giận Ngài đến đâu đi nữa. Mỗi lần trước Thánh Thể là mỗi lần nàng bị tra tấn một cách khủng khiếp. Nàng cầu xin Thiên Chúa đừng yêu thương nàng nữa, và hãy quên nàng đi cho nàng được thoát khỏi sự dày vò của lương tâm, vì nàng không thể tự vực dậy trái tim mình để yêu Ngài được nữa rồi. Hay dù nàng có yêu Ngài đi nữa thì nàng cũng không đủ sức để thể hiện tình yêu ấy!
***
Rời những bậc thang lặng lẽ, Thủy bước vào phòng, mọi giằng co càng trở nên khắc nghiệt trong tâm hồn. Người ta nói Thiên Chúa giàu lòng thương xót, và chính nàng cũng từng biết đó là sự thật, nhưng sao giờ đây nàng không cảm, không tin, không thể đón nhận. Trong nàng chỉ thấy duy nhất sự oán hờn, tăm tối, cô đơn và tuyệt vọng.
Bỏ lại Tu viện phía sau, nàng chạy như để chốn thoát một điều gì đó thật khủng khiếp, bóng nàng khuất dần theo lối mòn dẫn vào khu rừng...!
Đến bên tượng Mẹ Maria trên một ngọn đồi hoang vắng, nơi nàng vẫn thường lui tới cầu nguyện vào mỗi dịp tĩnh tâm. Nàng treo lên tay Mẹ chuỗi hạt - kỷ vật duy nhất của mẹ nàng khi nàng tạm biệt gia đình để vào Dòng tu- như một món nợ cuối cùng nàng trả lại Chúa để từ nay nàng không còn liên hệ gì với Ngài...!
***
- Trả cho tôi…! Trả lại chuỗi hạt cho tôi…! Hu hu…! Nó là của tôi…..!
Một đám người với những khuôn mặt kì dị từ đâu ùa đến tấn công nàng, giật lấy chuỗi hạt từ cổ nàng rồi chạy mất. Mặt mũi tím bầm vì bị đánh, toàn thân đau đớn, nàng với theo đám người lạ kêu khóc đòi trả lại chuỗi hạt. Bỗng một phụ nữ xinh đẹp rạng ngời, vẻ mặt hiền từ với hào quang rực sáng xuất hiện trước đám người lạ, chúng run rẩy trao lại người phụ nữ chuỗi hạt trước sự kinh  hãi của nàng. Người phụ nữ tiến đến ân cần đeo chuỗi hạt vào cổ nàng, nàng định bỏ chạy nhưng ánh mắt nhân từ yêu thương của Bà giữ chân nàng lại.
- Hỡi con, Mẹ yêu con! Mẹ thấu hiểu những đau khổ của con nên Mẹ đến đây an ủi con.
- Không! Bà nói dối. Tại sao Bà lại yêu tôi? Không có ai yêu tôi hết! Chúa cũng bỏ tôi rồi.
- Hỡi con, Chúa không bỏ con đâu. Ngài vẫn yêu thương con như ngày đầu và còn yêu con nhiều hơn nữa. Ngài luôn mở rộng vòng tay để ôm con vào lòng và trao ban tất cả tình yêu cho con. Hãy trở về với tình thương của Ngài đi con.
Cúi nhìn chuỗi hạt đeo trước ngực, hình ảnh mẹ nàng khoác cho nàng chuỗi hạt và dặn dò: “Đừng quên lời Mẹ Maria để luôn biết sám hối, trở về với tình thương của Chúa mỗi khi lỗi lầm, nghe con!” lại hiện về trong tâm trí, nàng ngước nhìn người phụ nữ và rưng rưng nước mắt:
- Mẹ ơi, con có lỗi với Chúa! Xin Mẹ cứu con với!
Thủy quỳ dưới chân Mẹ mà khóc. Mẹ Maria ôm Thủy vào lòng âu yếm an ủi. Trái tim lạnh giá của Thủy như được sưởi ấm. Nước mắt đã đông cứng trong nàng vì đau khổ giờ đây tan chảy, vỡ òa…!
***
Tia nắng chiều xuyên qua kẽ lá chiếu thẳng vào mắt làm nàng chợt tỉnh giấc mơ. Mệt mỏi, kiệt sức nàng thiếp ngủ ngay dưới chân Mẹ từ lúc nào không hay. Đưa tay lau giọt nước mắt chưa kịp khô, nàng giật mình sờ tay lên cổ, chuỗi hạt vẫn còn đó. Sững sờ! Chẳng lẽ những lời Mẹ Maria nói trong giấc mơ là sự thật? – Nàng tự hỏi rồi ngước nhìn lên Mẹ. Chuỗi hạt nàng đeo vào tay Mẹ đâu rồi?! Cúi nhìn chuỗi hạt nơi cổ mình, Thủy lặng người! Không gian cũng như ngừng chuyển động.
Giữa cái tĩnh lặng mênh mông của rừng vắng, nàng cảm nhận như có triệu triệu con mắt, triệu triệu tâm hồn đang chứng kiến tất cả những gì nàng vừa chứng kiến. Đúng rồi. Tất cả đều thấu nhập và thấu  hiểu những gì nàng hiểu, tất cả đều hiển hiện mà không cần nàng kể lại hay mô tả. Dường như có một Sức Mạnh Vô Hình hiểu biết và thấu nhập không gian, cái không gian bất tận như hòa tan trong nàng, hiểu nàng. Khác hẳn với cảm giác tăm tối, cô đơn, trống rỗng đến tận cùng mà những lúc nàng muốn xé nát cái thinh không quỷ quái ấy. Một Sự Hiểu Biết, một Trí Khôn…..một Thiên Chúa tràn ngập không gian, đang bao trùm vỗ về linh hồn nàng.
Nàng gục đầu dưới chân Mẹ để tạ ơn và chìm mình trong tình yêu vĩnh cửu của Thiên Chúa. Nàng quyết tâm dâng con tim rướm đầy máu của yêu thương, của ngang trái. Với lời kinh sám hối nàng ký lại GIAO ƯỚC TÌNH YÊU vĩnh cửu với Thiên Chúa, sự cam kết mà nàng đã ký cách đây hai năm nhưng giờ đây nàng mới thực sự hiểu thấu ý nghĩa thâm sâu, sự cao cả và những đòi hỏi triệt để của nó. Giờ đây nàng đã hiểu, nàng đã cảm sự sống động của Giao Ước trong chính con tim rướm máu và cuộc đời đẫm sương của mình. Hạnh phúc, nước mắt nàng tuôn rơi lã chã…!
 
 
Mã số: 17-054
 

PHỤC SINH TÂM HỒN

 
Vô ý gặp nhau
Chuyện kể vào đêm vọng Lễ Phục Sinh, cô đi tham dự thánh lễ. Năm nào cũng thế, cô thích bầu không khí thánh thiêng trong đêm hôm ấy, dưới những ánh nến sáng, lung linh và tràn đầy niềm tin yêu, hy vọng.
Năm đó cũng vậy, cô mua cho mình một đôi nến trắng an lành, thường thì người ta bán nến theo cặp, cô đi một mình, nên thành ra có “của dư” giữ ở trong tay. Nhưng “của dư” không có nghĩa là “của thừa” để bỏ đi. Cô nghĩ, sẽ có người cần dùng đến nó.
Và rồi, trong buổi tối có muôn vàn ánh nến cháy đó, cô đã gặp anh. Người đã đi tay không tới nhà thờ. Kể cũng lạ lắm thay! Về sau, lý do anh tường trình lại, bữa đó anh bận bịu công việc ở văn phòng, chỉ kịp chạy loáng về nhà thay đồ rồi tới nguyện đường ngay, loay hoay thế nào mà để quên ví tiền ở nhà, thành ra chẳng có đồng nào để mua cho mình cây nến nhỏ thắp trong đêm linh thiêng.
Cô đã nghĩ anh sẽ cần đến nó. Như một lời chia sẻ, cô chìa cây nến trắng về phía anh, mỉm cười, bảo, anh cứ lấy xài nhé, đừng ngại, ở đây, chúng ta cùng là người mộ đạo và sống tâm linh với nhau mà thôi! Cô cũng nghĩ, chỉ coi đó như là một việc lành, có ích mình có thể làm được trong đêm thánh. Vậy mà cũng khiến anh bất ngờ cảm động mãi về sau này! Có những thứ nhỏ nhặt mà lại dễ mến và gây cảm tình đến vậy đó! Cả buổi lễ hôm đó, hai người trẻ trang nghiêm tham dự các nghi thức nhà Đạo. Tiếng nhạc thánh ca du dương, lúc trầm, lúc bổng… để lại cả một khoảng tịnh yên cho tâm hồn con người. Chẳng mong ước cao sang vật chất gì nhiều, chỉ mong sao những điều an lành sẽ đến cùng chúng ta.
 Khi thánh lễ kết thúc, anh không quên cám ơn cô gái một lần nữa. Ừ thì, có gì quá to tát đâu, anh nhỉ? Cô chỉ cười nhẹ, đáp lại. Vậy mà cũng đủ khiến anh băn khoăn và đã nghe như mình chợt luyến nhớ nụ cười ấy thật rồi. Anh mạnh dạn ngỏ ý cùng cô, dịp nào chúng ta có thể gặp lại và nói chuyện đôi chút được không? Như hai người bạn hoặc đơn cử như hai người cùng đạo nhé! Đừng để mình quá bận rộn gì quá nhé! Anh tin là anh vẫn có thể kiễn nhẫn chờ cô một cuộc hẹn thật sự, cho ngày gặp lại. Hai người quen nhau từ dạo ấy, như một sự thật hiển nhiên mà dễ mến nhất trần đời. Chẳng ai thắc mắc quá nhiều về người kia! Chuyện ấy đâu có thực sự đáng quan trọng lắm nhỉ?!
Đan xen chuyện từ quá khứ lẫn hiện tại...
Người yêu trong quá khứ của anh. Chị ấy hiền dịu và đằm thắm như một đóa hoa. Hai người quen nhau và hẹn hò, trong suốt ngần ấy thời gian, chưa có lấy một lần hai người làm phật ý nhau hay hời dỗi, giận hờn. Tình yêu xuất phát từ con hai người trưởng thành và kiên định. Những tưởng sẽ đi cùng bên nhau lâu thật lâu…
 Nhưng có những điều quá mong manh để có thể nắm níu lấy trong cuộc đời này. Và có những chuyện thật buồn để kể lại. Vì chúng từng khiến anh ủ dột suốt một quãng thời gian không hề ngắn, hết những mùa mưa lướt thướt, sang cả những mùa nắng qua đi rồi.
 Sài Gòn, từ ngày mất đi người tình mà anh thương yêu, trong một vụ tai nạn giao thông, không dưng trở nên thinh lặng đến đáng sợ và ám ảnh vô cùng. Anh sống khép mình và lặng lẽ đi đi về về, làm nốt những đầu việc cần làm. Đôi lần có những khoảng lặng lạnh đến xám hồn. Anh vẫn sống tiếp, vì cuộc đời vẫn tiếp nối.
 Vào mỗi cuối tuần, anh tới nguyện đường để được thấy mình bình tâm trở lại, để nguyện cầu cho cô gái anh từng hết mực thương yêu. Cô gái có cái tên thật đẹp và bình yên- An Nhiên.
 Chuyện tình yêu anh kể, thật thà và sáng trong nhưng cũng chất chứa những nỗi buồn xuyên không. Kí ức đẹp đẽ song cũng đau buồn, nhắc lại quả là một điều đâu hề dễ dàng gì. Anh luôn không thôi xúc động là vậy. Nước mắt anh từng lặng lẽ rơi, cay xè đôi bờ mi. Nhiều đêm, giấc ngủ của anh đầy mộng mị và bị đứt gãy, thổn thức tỉnh dậy chỉ thấy bóng tối thinh không mà lòng quặn thắt, vì trong giấc mơ có một người đã mãi rời xa và biến mất khỏi thế trần này. Anh thương một người nhiều tới mức ấy, dù cả trong cơn mơ.
 Những góc phố anh và An Nhiên từng ngang qua, anh cũng có thể vô tình tạt qua mỗi ngày đi làm. Góc phố sẽ có người đến, kẻ đi qua lại thường xuyên. Song khoảng trống nhớ thương trong lòng anh lại hóa là cả một lỗ hổng lớn thật lớn, từ ngày cuộc đời anh thiếu vắng đi bóng hình của một người đã từng ngang qua đời mình.
 Những bản nhạc anh tình cờ nghe lại… Chẳng phải sẽ có một giai điệu nhạc nào đó cất lên, rồi sẽ khiến anh xúc động đến bật khóc lên được. Mà anh chỉ thật thà thừa nhận rằng, bản nhạc đó chỉ là gợi nhắc lại kí ức với một người anh đã từng mà thôi!
 Anh vẫn hoài như một người từ quá khứ… vậy sao?
***
 Rồi đôi lần hẹn gặp nhau ở quán café sân vườn xanh lá hiền hòa. Anh thường là người chủ động tới trước. Cô đến sau, có thể đưa mắt tìm anh, nhưng không hiểu sao, với cái dáng vẻ cô độc và trầm mặc của anh lại gây nhớ trong tâm trí cô tới thế! Nhớ tới nao lòng.... Anh chẳng cần gì nhiều, chỉ mong có người ngồi lại để biết mình không cô độc, không hề bải hoải, kiệt sức. Anh cần người sẻ chia vậy thôi! Và chính những suy nghĩ lẫn những hành động thật tâm của cô cứ nói ra, cứ làm, hóa ra lại là những thứ ủi an thật lòng mà gần gụi.
 Cô tự cho mình khả năng tỉ mẩn tập trung vào người mình thương mến! Đơn giản vậy thôi! Cô nhắn tin chúc anh ngày mới, chỉ mong khi đọc sms, biết đâu đôi môi vẽ nụ cười? Dặn anh tập cho mình thói quen ngủ sớm một chút, đừng thức khuya. Hay hôm nay anh hãy thử ăn chay xem sao nhé?
 Thỉnh thoảng, cô ghé căn phòng nhỏ của anh, mang theo vài ba bọc ni lông có chứa rau củ, đồ ăn, nhét vào ngăn mát tủ lạnh. Cô mua tặng anh vài ngọn nến thơm tho để đốt cho ấm cúng gian phòng vốn đơn người. Anh chả lỡ từ chối tâm ý của cô. Ngày nào từ văn phòng trở về, mệt nhọc, nặng lòng… nhưng anh thấy mình cảm kích từ tấm lòng của cô gái. Cuối tuần thì hai người tới giáo đường cùng cầu nguyện.
  Cô đã biết mình luôn nghĩ cho anh. Và có lẽ những điều đó không thể đong đếm được, những quan tâm nhỏ nhặt mà chân thành.
 Cô không có ý bày đặt sẽ khuyên can anh điều này điều kia. Bởi vốn dĩ anh lớn hơn cô, có khi anh đã bước qua, trải qua bao nhiêu điều rồi: vui buồn, chát đắng… nhưng cô chỉ bảo, mong anh đừng nên mãi chôn giấu mình, dằn vặt bản thân trong những hoài niệm xưa cũ. Cuộc đời này vốn dĩ còn dài lắm! Đau khổ cũng chẳng ngăn nổi để chúng không thể kéo tới. Và những ngày vui, cô không tin là không tồn tại, nếu như hai người ở lại bên nhau, dành cho nhau những chân thành và vui vẻ thường nhật thôi cũng được. Chỉ cần anh vui, lòng cô tất sẽ hân hoan.
***
 Một lần, đứng trước quyết định nên đi hay ở lại nơi này, khi văn phòng công ty có nhã ý hỏi cô có muốn thuyên chuyển công tác hay không? Nếu cô gật đầu đồng ý, thì cũng đồng nghĩa với việc cô sẽ tạm rời xa nơi này và anh.
 Chỉ riêng có điều không như ý, cô vẫn không thấy anh có nhiều điểm khác đi sau những ngày dài đã qua. Cô tự vấn bản thân mình chưa đủ thấu hiểu một người sao? Quan tâm cũng chưa đủ để giúp người đó khỏa lấp những trống vắng? Cô vẫn chưa thể chạm vào những điều chưa thể nói ra từ anh. Cô không mong muốn, khoảng cách giữa cô và anh cứ dần giãn ra cả… không chỉ về mặt địa lý. Cô rối bời trong chính những cảm xúc lẫn quyết định của mình. Rồi cho đến khi cô cần một điều gì đó thay đổi.
- Anh à- Cô khẽ gọi, bày tỏ.
- Sao thế em?- Anh gặng hỏi.
Cô chân thành hướng ánh nhìn về phía anh, và nói:
- Nếu một ngày em không còn bên anh nữa, anh hãy tự hứa rằng mình vẫn sẽ mỉm cười sống vui và bình tâm đấy nhé!
- Anh nghĩ, mình sẽ dừng lại… em à!
Cô thoáng nghĩ trong đầu, anh ấy đang nói gì thế này? Rồi cô hỏi thật tự nhiên thôi! Nhưng có lẽ cũng đủ để anh bừng nhớ ra:
- Thế đã là bao lâu rồi anh nhỉ?
- Thì bấy lâu nay em đã ở bên anh. Cám ơn em vì tất cả, vì những ngày dài đã qua nữa…”- Anh trầm tĩnh nói.
Và rồi cô đi thật. Cô cố gắng làm quen với những điều đến trong môi trường làm việc mới, nhưng cũng không hẳn là mới lạ lắm so với cô. Khi trong lòng cô chưa vẫn có thể nhớ về những chiều cuối tuần ở nguyện đường, những ánh nến trong đêm.... Niềm cảm mến hay suy nghĩ trong cô chưa bao giờ ngưng hướng về một người, dù giờ, đã chỉ là… từ xa.
***
Anh nghĩ mình nên dừng lại, bởi những xáo trộn trong chuyện tình cảm trong suốt những ngày dài qua…
Anh im lặng và hình dung trong đầu hình ảnh mình những ngày qua, một chàng trai 26 tuổi lặng lẽ, cô đơn và bối rối…
Anh chỉ bừng tỉnh bởi ánh mắt của cô nhìn anh đầy khắc khoải và chất chứa những thương yêu thầm kín và chân thành trong lòng cô gái trẻ. Suy nghĩ bật ra trong đầu tự nhiên khi anh nghĩ về cô rằng: Hãy đi tìm cô gái, người đã từng cho anh cảm giác an yên ấy. Cô đã quan tâm anh bằng thứ tình cảm thật dịu dàng, chu đáo và luôn tận tâm hết mình. Nhắm mắt lại, anh lại thấy những ánh nến trong đêm, nụ cười của cô gái... Anh hồi nhớ lại mọi thứ gần như rõ nét, rồi tự hỏi, điều gì là quan trọng trong cuộc đời mình ở hiện tại?
Và rồi, sau rốt, anh đi tìm cô, bằng nhiều cách nối lại… Nhưng có lẽ, duy nhất chỉ có cách của những người thương nhau thật lòng rồi cũng sẽ trở về với nhau mà thôi!
Và hãy giữ lấy nhau, tha thiết và chân tình.
 
Những mùa Phục Sinh còn lại…
Rồi cả những mùa Phục Sinh sau này nữa, hai người vẫn nắm tay nhau tới nguyện đường để cầu xin bình an, hạnh phúc trong đời sống. Không quên nhớ lời cầu nguyện tới người con gái năm xưa- An Nhiên. Hình ảnh về cô gái ấy mãi còn được lưu giữ trong lòng người ta, hóa thành kỉ niệm tình yêu. Và khối tình yêu ấy vẫn đong đầy trong lòng người, để chuyển hóa thành những hành động của yêu thương ở thì hiện tại, cho người còn ở lại.
Vẫn như ánh nến cần mẫn cháy sáng, luôn nồng ấm, đủ để soi chiếu khóe thấy môi nồng nàn nở ra một nụ cười hiền lành, từ anh, từ cô.
Và nụ cười cũng đã trở lại trên môi.
Và những bình yên rồi cũng ghé đến, an nhiên ở lại cùng nhau! Với những tâm tư mới, tình cảm mới cho người chân thành, cho người đã nhẫn nại ở lại, để cùng nhau…
Như cô và anh, hai người sẽ còn đón đợi những mùa Phục Sinh khác nữa đến trong đời. Từ chính cái mùa họ quen nhau -mùa Phục Sinh- đã cho họ được phục khởi lại những mạch cảm xúc nơi tâm hồn.
Để lại thấy mình yêu và được yêu, tròn vẹn!
 
 
Mã số: 17-056
 
 

MẸ SẦU BI

 
- Khang ơi…Khang ơi…Khang ơi…Khang…về ăn cơm.
Tiếng gọi em về ăn cơm của hai cô chị cứ thay nhau vang lên mà chẳng thấy thằng em con một trong nhà đáp lại. Chẳng ai biết cậu con một này đang vác cột đi chơi nơi đâu. Mặc dù rất cưng chiều nhưng người mẹ cũng không kiên nhẫn nổi. Bà  bèn quát lớn:
- Chúng mày lấy cho tao cái roi, để tao xem nó chui ở góc nào.
Người mẹ vừa dứt lời thì cô chị thét lên kinh hoàng. Tiếng thét thất thanh khiến người nghe nổi da gà, tiếng thét khiến người mẹ đánh rơi khỏi tay cái roi và quay trở ngược về nhà. Người chị chạy ra ôm chặt lấy mẹ mình và khóc thét lên thảm thiết. Người mẹ chưa hiểu chuyện gì, nhưng cơn giận thì đã tan biến và thay vào là cái lạnh toàn thân khiến da gà nổi khắp người. Bà ôm người con gái như phản xạ tự nhiên của gà mẹ che chở gà con dưới cánh, mặc dù gà mẹ cũng đang sợ đến ớn lạnh cả người. Người mẹ tính đi về phía cái bể chứa nước mưa mà cô con gái vừa đứng múc nước. Nhưng cô con gái xiết chặt mẹ khiến bà không thể nhúc nhíc. Bà đứng ôm người con gái, còn đôi mắt mở chằm chằm hướng về bể nước. Lúc này người cha trong nhà đang xới nồi cơm bỗng chạy ra, ông đi nhanh về phía cái bể. Là đàn ông, nên ông vẫn tỏ ra chắc chắn và bình tĩnh. Nhưng khi vừa nhìn vào cái bể, ông hoảng hồn lao xuống. Người mẹ hoang mang tột độ nhưng không thể bước lên được vì đứa con gái ôm bà quá chặt. Bà muốn gạt đứa con gái lại để lao về phía cái bể chứa nước mưa nhưng bà không thể. Đứa con gái 14 tuổi của bà với thân hình chỉ bằng một nửa đang ôm chặt bà như một người có sức mạnh gấp 14 lần bà. Mắt bà vẫn chừng chừng hướng về phía cái bể. Còn ông bố thì đã lao hẳn vào trong cái bể. Một hình ảnh kinh hoàng hiện lên làm đôi mắt đang chừng chừng cụp xuống và toàn thân bất tỉnh nằm xõng soài trên nền sân trong cái nóng giữa trưa hè tháng 5. Người con gái cũng nằm xuống, vẫn ôm chặt lấy mẹ như không biết mẹ mình đã bất tỉnh.
Người bố đầy vạm vỡ, nhưng chỉ đủ sức xốc hai tay vào nách đứa con trai 7 tuổi và đẩy nó nằm vắt ngang thành bể và thét lên hai tiếng kêu thất thanh:
- Cứu …cứu!
Giữa giờ trưa, giờ mà hầu hết mọi người trong xóm đang ăn cơm. Nhưng tiếng kêu của người bố vừa ngắt thì mọi người đã ùn ùn kéo đến. Từ già đến trẻ, từ đầu xóm đến cuối xóm không thiếu một ai. Có một vài đứa nhỏ còn mang theo cả tô cơm theo xem có chuyện gì.
Mấy người lớn lao về phía cái bể nước ôm lấy thằng bé và hô hấp nhân tạo, ép lồng ngực, ép bụng, xốc ngược thằng bé lên cho nước chảy ra…. Trong khi đang hô hấp cho thằng bé thì năm thanh niên khỏe mạnh của xóm cũng phải chật vật một hồi lâu mới kéo được ông bố ra khỏi bể nước. Họ đặt ông ngồi ở góc hành lang. Ông ngồi yên, mắt theo dõi từng cử chỉ hành động của mọi người. Ông hiểu tất cả và đoán được điều gì sẽ xảy ra nhưng ông không thể nhúc nhích tay chân cũng như không thể nói được một lời. Chỉ có đôi mắt ông là cứ cay cay, nhòe nhoẹt vì dòng lệ cứ chực chờ trào dâng.
Thằng bé chẳng hồi đáp, nó vẫn thản nhiên nằm bất động trước sự luống cuống của mọi người. Hết người này đến người khác thay nhau; hết cách này đến cách khác được áp dụng nhưng chẳng làm cậu bé thay đổi. Cứ mỗi lần có người định thông báo kết quả tuyệt vọng cho bà mẹ thì lại có một người ngăn lại và nói để tôi thử thêm cách này nữa. Thời gian vật vã giữa đứa bé và đám người lớn kéo dài cả tiếng đồng hồ mà chẳng mang lại hiệu quả gì.
 Những người đang cố gắng làm cho cậu bé tỉnh dậy tỏ ra rất linh hoạt và mạnh mẽ nhưng chẳng ai dám tiến lại nói với bà mẹ về kết quả tuyệt vọng đó. Dường như họ cứ muốn đụng vào người thằng bé đã lạnh ngắt để cho bà mẹ còn hy vọng, mặc dù họ biết là đã hết hy vọng. Tất cả cứ luẩn quẩn trong vòng rối rắm mà không có lối thoát. Cuối cùng, một cụ già cao tuổi nhất xóm và cũng là ông nội của cháu bé lên tiếng nói:
- Thôi anh em đừng làm gì nữa. Hãy để thằng bé được an bình ra đi. Tôi sẽ đến nói với người mẹ.
Ông cụ nói với mọi người bằng giọng điệu chậm rãi, hai tay ông vỗ lên vai mấy người đứng bên cạnh như thay lời cám ơn cho những cố gắng của mọi người. Không ai nói một lời nào, tất cả ánh mắt nhìn ông cụ với sự đồng tình. Ông cụ đi từ từ về phía người mẹ đang ngồi quằn quại với người con gái giữa sân. Lúc này, mọi ánh mắt không còn tập trung vào thằng bé, nhưng tập trung vào từng cử chỉ của ba ông cháu. Giữa trưa nắng cháy da, cháy thịt mọi người đứng lặng như tờ, không một lời nói, chỉ có đôi mắt là đang mạnh mẽ truyền những năng lượng yêu thương, nhưng chúng cũng mỏng giòn, như đang chờ chực tuôn rơi những dòng lệ thương cảm.
Ông cụ từ từ ngồi xuống, mắt ông không rời khỏi mắt bà mẹ. Còn bà mẹ cũng không rời mắt khỏi ông. Bà mẹ đang chờ lời nào đó thốt ra từ miệng ông. Khi đã đặt hai bàn tay nhăn nheo lên vai bà mẹ và nắm thật chặt, ông cụ từ từ nói:
- Con ạ, Chúa làm mọi sự đều sinh ích lợi cho những ai yêu mến người. Con hãy vững tin lên.
Nói rồi, ông cụ ôm choàng lấy cả hai mẹ con. Trong khi người mẹ như có vẻ chưa hiểu gì để khóc thì mọi con mắt xung quanh đã tuôn trào dòng suối lệ. Tiếng khóc ai oán vang khắp nhà, khắp xóm. Từ đàn ông đến đàn bà, từ người già đến người trẻ đều thấy mắt mình cay cay nhòe nhoẹt nước. Tiếng khóc của mọi người làm người mẹ hiểu ra và bật lên rên siết thảm thiết. Bà lê lết đòi bò về phía người con. Nhưng mọi người đã khiêng bà vào trong buồng để tách bà khỏi những hình ảnh đau thương này. Một số phụ nữ ở lại trong buồng chỉ là để ôm lấy bà mẹ mà chẳng thể làm bà bớt quằn quại rên siết.
Tiếng khóc của người mẹ như tiếng rên siết của bà Rakhen khóc thương con mình và không chịu cho ai đến an ủi. Cả tuần sau đó người ta cứ thấy tiếng khóc của bà thét lên từng hồi. Không khí của cả xóm như tái diễn lại khung cảnh tiếng khóc của những người phụ nữ mất con thời vua Hêrôđê cả sát hại các các con trẻ. Đặc biệt lúc về đêm, tiếng khóc của bà khiến những người mẹ trong xóm cảm thấy lạnh người. Những hôm đó, nhà nào có con trẻ thì đều chung một nỗi sợ như nhau. Họ kể với nhau rằng họ không dám để con mình ngủ riêng, cũng như chẳng đứa con nào dám ngủ một mình trong những ngày sau đó. Mỗi khi tiếng khóc vang lên là mẹ ôm chặt lấy con, và con siết chặt lấy mẹ. Và cả hai mẹ con cùng thầm thĩ nguyện cầu:
- Lạy Chúa đầy lòng xót thương, xin Ngài hãy xoa dịu nỗi đau của người mẹ đáng thương đó. Và xin cho tai họa đừng ập xuống trên đầu chúng con.
Không ai có thể gần gũi trò chuyện và cho bà lời an ủi. Nhưng kể từ hôm thằng bé được mai táng, mỗi khi tiếng chuông nhà thờ điểm 12h trưa, vào đúng cái giây đó, bà mẹ đầu trần, chân đất đi tới nhà thờ. Bà lững thững bước đi như đang đếm từng bước. Sự chính xác đến từng giây của bà, khiến mọi người khâm phục. Mỗi khi bà đi ngang nhà ông từ, thì ông từ biết đến lúc kéo chuông mà không cần xem đồng hồ, và khi bà vừa ngồi xuống ghế trước tượng Mẹ Sầu Bi là ông ngừng kéo. Ông rất ngạc nhiên tự hỏi và thường kể với mọi người:
- Tôi không hiểu vì sao, một người thất thần, đãng trí lại duy trì sự chính xác giờ giấc đến kỳ lạ như vậy.
- Ừ đúng vậy.-Moi người đều tỏ sự ngạc nhiên như ông.
Sự ngạc nhiên này đều đặn và được chuyển hóa thành sự kỳ lạ thu hút sự chú ý của mọi người. Cách hành xử của người mẹ như còn chứa đựng bên trong một sức mạnh huyền bí thu hút tâm trí mọi người. Không phải vì sợ mà không ai dám đến gần bà để che nắng, để quạt cho bà nhưng sâu xa họ như không dám can thiệp vào một hành trình bí ẩn đầy hấp lực này. Từ trẻ em đến người già, từ trong xóm đến cả xứ đều muốn đến chứng kiến sự lạ lùng này. Không ai bảo ai, trước 12h trưa họ cùng nhau kéo đến đứng trật các nhà ở hai bên đường đến nhà thờ để chờ được chứng kiến từng cử chỉ của bà mẹ như được chứng kiến cuộc đối thoại không lời với Đấng Vô Hình. Họ không dám tới gần, không dám gây một tiếng động sợ bà chia trí, họ sợ cuộc đối thoại với Đấng Vô Hình bị gián đoạn.
Dù đám đông có gây ồn ào, dù hàng trăm ánh mắt đang hướng về bà, nhưng chẳng hề làm bà mẹ xao động chút nào. Từng cử chỉ chính xác đến quen thuộc vẫn được thực hiện. Những cử chỉ đó không chỉ làm thỏa mãn tính tò mò nhưng nó đi sâu vào tâm trí mọi người và mang một sức mạnh biến đổi lạ kỳ. Mỗi khi bà đi ngang qua, họ thường ngước mắt lên trời như thầm thĩ điều gì và làm dấu thánh giá trước khi ra về.
Đã 14 ngày trôi qua, hôm nay là ngày 31 tháng 5, ngày mà cả giáo xứ tổ chức cung nghinh kiệu Đức Mẹ quanh làng. Sự ồn ào của việc chuẩn bị cờ quạt, hoa nến, kèn trống, loa nhạc, múa hát cũng chẳng tác động gì đến bà mẹ. Trưa hôm đó bà vẫn thực hiện hành trình như thường ngày. Bà vẫn ngồi hàng giờ trước tượng Đức Mẹ Sầu bi. Không đọc kinh, không quỳ lạy, không lẩm bẩm cầu xin… chỉ đôi mắt đăm đăm nhìn không chớp. Ánh mắt đó có lúc thì giận hờn, có lúc thì buồn tủi, có lúc lại lóe sáng, đa phần là ánh mắt bắt đền, ăn vạ. Giữa trưa hè như thiêu đốt khiến quần áo bà ướt đẫm vì mồ hôi. Chỉ đôi mắt là khô ráo vì đã cạn kiệt nước mắt.
Trong lúc đôi mắt ấy đang than van kêu trách thì cánh tay bức tượng Mẹ Sầu Bi bị gãy xuống làm cho bức tượng Chúa Giêsu con Mẹ rơi xuống lăn lóc trên nền đất. Vào giữa trưa, đúng giờ ngọ không một bóng người tại khuôn viên nhà thờ. Người mẹ hoảng hốt, cơn hoảng hốt bất ngờ đẩy lui sự đau đớn than van bấy lâu của người mẹ. Bà lao tới rất nhanh nhặt cánh tay Đức Mẹ lên gắn lại. Rồi bà quay lại tượng Chúa Giêsu đang nằm dưới đất, bà thòng tay qua cổ và nâng Chúa để bế lên đặt vào tay Đức Mẹ. Mặc dù tượng Chúa rất lớn và nặng gấp ba lần bà nhưng không hề làm bà nhụt chí. Bà sợ Đức Mẹ đau buồn khi nhìn con mình đang nằm trên đất. Nỗi lo sợ vì sự an nguy của người khác lại nhanh chóng xua tan nỗi đau buồn của bà và làm bà trở nên mạnh mẽ lạ thường.
Bà cố gắng xoay chuyển các tư thế nhưng Chúa Giêsu vẫn bất động. Bà biết mình không thể bế Chúa Giêsu trên tay như Mẹ. Bà quỳ xuống ôm Chúa và bật khóc thảm thiết. Đôi mắt khô ráo nay đang tuôn chảy như dòng suối ướt đẫm cơ thể Chúa. Bà như người phụ nữ đang lấy nước mắt mình mà tắm và lấy cả thân mình mà lau cho tượng Chúa.
Tay bà vẫn ôm chặt Chúa, đôi mắt nhòe nhoẹt ngước lên nhìn Mẹ Maria như muốn an ủi và nói lời xin lỗi Mẹ. Nhưng Mẹ Maria vẫn đứng đó, vẫn đang dõi nhìn và mỉm cười với bà mẹ đáng thương đang khóc lóc. Bốn mắt yêu thương nhìn nhau, và niềm hy vọng trên khuôn mặt Mẹ, nụ cười ủi an của Mẹ làm đôi mắt đau buồn của bà mẹ sáng bừng lên. Bà chạy tới ôm tượng Mẹ thật chặt và thầm thĩ với Mẹ đôi lời như dâng lời tạ ơn.
Lúc này đôi mắt rạng rỡ đã lan tỏa làm cho cả con người bà bừng sáng. Bà chào Mẹ ra về. Từng cử chỉ của bà khác hẳn với lúc trước, bà đã phục sinh từ cõi chết. Thân thể bà đầy tràn sức sống, hoạt bát, nhanh nhẹn và vui tươi. Bà bước đi thoăn thoắt, mắt thì lung linh, miệng cười chúm chím với mọi người.
Không ai hiểu chuyện gì đã xảy ra kể cả những người trong gia đình bà. Bà vui vẻ bước vào nhà nhanh nhẹn sửa soạn để đi rước. Người bố và các cô con gái nhìn mẹ ngạc nhiên, còn bà mẹ chỉ mỉm cười và nhẹ nhàng nói:
- Hôm nay mẹ sẽ đi rước Đức Mẹ quanh làng.
Nghe những lời đó, người bố và cô con gái cũng không nói gì. Họ mỉm cười rạng rỡ và cùng chuẩn bị xuống nhà thờ để đi rước.
Rảo bước trong bộ áo dài thướt tha với nụ cười luôn nở trên môi. Bà làm mọi người đều ngạc nhiên, nhưng niềm vui sâu xa của bà khiến mọi người chẳng thèm bàn tán về sự lạ lùng nhưng thay vào đó là sự trầm lặng để cảm nhận niềm vui của bà, một niềm vui đầy sức sống, một niềm vui phục sinh.
Bước xuống nhà thờ, đi ngang tượng Mẹ Sầu Bi, bà ngạc nhiên khi thấy bức tượng đã được trả lại như ban đầu. Bà tự hỏi sao mọi người sửa nhanh vậy, hay là hồi trưa mình tưởng tượng ra sự việc đó, mình có nên lại gần để điều tra cho rõ hay không,.. cuối cùng bà quyết định không cần tò mò tìm hiểu thêm về sự lạ lùng này, cũng như bà sẽ tiếp tục giữ kín không nói cho ai. Bà mẹ ngộ ra và vui mừng vì những điều mình hiểu và đang cảm nhận trong lòng. Bà không kể cho ai nghe về điều đó, bà giữ kín điều đó và suy đi ngẫm lại trong lòng.
Sự lạ được lan đi khắp cả xứ, cả làng nhưng chẳng ai dám hỏi chuyện gì đã xảy ra và bà mẹ cũng chẳng nói một lời về những gì bà đã thấy. Cuộc đi rước quanh làng để cung nghinh Đức Mẹ nhưng chẳng khác nào cuộc rước để cung nghinh một sự thay đổi, một sức sống phục sinh lạ kỳ của bà mẹ. Ai cũng muốn quan sát niềm vui, sự bình an lan tỏa ra từ bà mẹ sầu bi. Hình ảnh này của bà mẹ khiến họ cảm thấy được xua tan những muộn phiền trong cuộc sống, và cảm thấy lòng mình nâng nâng phấn khởi.
Cả giáo xứ rộn ràng niềm vui sâu xa. Bà mẹ tiếp tục công việc hàng ngày của mình bằng sức sống mãnh liệt. Hình ảnh bà mẹ trần thế này là sự phản chiếu rõ rệt hình ảnh Mẹ Maria sau chặng đường thập giá. Bà trở nên nguồn an ủi cho những người tiếp xúc với bà bằng một cách thức đơn giản là hằng dâng lời ngợi khen như Mẹ trong kinh Manhificat:
Linh hồn tôi tung hô Chúa, tung hô Chúa í a.
Thần trí tôi mừng vui vời vợi trong Đấng Cứu Chuộc tôi…
 
Mã số: 17-058
 

BẮC LẠI NHỊP CẦU

Tình yêu Đức Kitô quy tụ chúng ta nên một
Mở Ipad ra nằm xem phim mà Tiến ngủ quên lúc nào không biết. Trong giấc ngủ chập chờn, Tiến mơ thấy cây cầu mục gãy từ khi nào mà đến giờ vẫn chưa được xây lại. Cũng có nhiều người đang cố hàn gắn lại cây cầu, nhưng đến nay vẫn còn dang dở. Tiến ngồi nhìn cây cầu, thắc mắc “cây cầu này sao khó xây lại thế”? Còn đang ngồi thì Tiến thấy đoàn người hành hương đi về đất hứa, nhưng để đến được miền đất hứa thì phải qua một con sông lớn. Mọi người đều thất vọng vì cây cầu trước mặt đã gãy mà chưa được nối lại. Tiến cũng đang nghĩ cách để giúp mọi người qua sông thì một thiên thần hiện ra với Tiến, nói: “Con có thể giúp ta nối lại chiếc cầu được không?”. Tiến hoảng sợ: “Một mình con làm sao nối lại được?”- “Ta sẽ trợ giúp con”. Thiên thần vừa nói xong thì có một bạn đến bắt tay Tiến: “Mình cùng xây cầu nhé”. Tiến run run đưa tay ra, lạ lùng cây cầu gẫy kia được nối lại… Giấc mơ còn dang dở thì thằng Quân chạy về gọi ơi ới: “Tiến ơi! Sao mày không đi học?”. Giật mình, Tiến bò dậy khỏi giường, dụi hai mắt.
- Tao hơi mệt, có gì mới không?
- Tuần này có hai việc làm ý nghĩa, tao nghĩ mày sẽ thích.
- Việc gì?
- Nhé, thứ nhất là đi thăm và tặng quà Giáng Sinh cho các bệnh nhân HIV giai đoạn cuối ở Bình Phước vào chiều thứ năm. Thứ hai, đi dự buổi gặp gỡ liên tôn ở Trung Tâm Mục Vụ Sài Gòn vào chiều thứ bảy tuần này.
- Ai tổ chức?
 - Đi thăm và tặng quà Giáng Sinh cho các bệnh nhân HIV ở Bình Phước thì do bạn Kiên tổ chức, còn buổi gặp gỡ liên tôn thì chỉ có Cha Bảo Lộc chứ còn ai vào đó.
- Kiên là ai?
- À, là một bạn theo đạo Tin Lành, vừa chuyển vào lớp mình.
- Tin Lành hả? Nghe cái tên tao đã thấy ghét. Mày đi thì đi.
- Mày không đi hả?
- Không.
- Tại sao?
- Tưởng ai tổ chức chứ, sao cái thằng nhãi ranh ấy vừa vô lớp đã muốn nổi thế?
- Không phải như mày nghĩ đâu. Ba bạn ấy là một mục sư, vừa đi Mỹ về xin được một khoản tiền, muốn giao cho bạn ấy làm một việc gì có ý nghĩa trong mùa Giáng sinh này. Nhân tiện vào lớp hôm nay, bạn ấy hỏi ý kiến cả lớp nên làm gì với khoản tiền đó, tụi tao gợi ý đi thăm bệnh nhân Sida giai đoạn cuối ở Bình Phước là thế.
- Tất cả sinh viên trong lớp đi hết hả?
- Uhm, chỉ còn thiếu mày. Tao nghĩ mày nên đi, vì đó cũng là dịp tốt để tiếp cận với người Tin lành, nhờ đó mình hiểu thêm về họ và giáo lý của họ hơn.
- Tao biết ngay mà, khi nào họ cũng dùng cái chiêu trò đó để chiêu mộ đạo.
- Mày nói vậy nghĩa là sao?
- Là họ hay dùng tiền, quà cáp để lôi kéo người khác vào đạo của họ đó.
- Sao mày không nghĩ tốt cho người khác mà chỉ toàn nghĩ xấu không à. Hèn chi mà cái Tâm không thèm yêu. Họ hy sinh tiền bạc, thời giờ, sức khỏe cũng chỉ vì…
Quân chưa nói xong, Tiến đã lao tới cho một cú đấm trời giáng vào mặt, một giọt máu từ khóe miệng rớt xuống. Quân không phản ứng lại, ngẩng đầu lên hất lại mái tóc.
- Mày được lắm, Tiến ạ!
Nói xong hắn phi thẳng lên phòng, không thèm quay đầu lại. Tiến và Quân ở chung trong cái phòng trọ này đã ba năm. Có nhiều mâu thuẫn, nhiều xích mích nhưng hai đứa không giận nhau quá một ngày, thường thì Quân lúc nào cũng là người làm hòa trước. Sau xích mích hồi nãy, Tiến cũng thấy mình có lỗi nhưng không đủ can đảm qua phòng Quân. Cả buổi chiều chờ Quân qua phòng vờ mượn cuốn sách hay rủ đi ăn như mọi lần hai đứa giận nhau. Nhưng lần này đã chiều tối mà cũng không thấy mặt mũi tăm hơi Quân, đã vậy còn không thèm ăn cơm. Sốt ruột, Tiến lên phòng xem thử, tưởng Quân đang hí hoáy trạm trổ, đục khoét lên cục gỗ để tạo ra một tác phẩm nghệ thuật như mọi ngày, ai dè hắn ngồi dán mắt vào máy tính trông bộ suy tư lắm. Cái cử chỉ của hắn làm Tiến phải tò mò: “Thằng này làm cái quái gì mà chăm chú dữ, xem phim chắc. Mà sao hắn không gắn tai phôn? Phải xem hắn làm gì mới được”.
Tiến lại gần cái màn hình, thì ra hắn đang nghiên cứu về đạo Tin Lành và đạo Công giáo. Phía dưới, một câu hỏi được bôi đậm: “Tại sao cùng tin một Thiên Chúa mà hai đạo Tin lành và Công giáo lại luôn có những mâu thuẫn bất đồng với nhau?”. Nhìn câu hỏi hắn bôi đậm làm Tiến phải thắc mắc: “Hắn đặt câu hỏi như vậy có ý gì?”. Tiến đứng đó đã nửa giờ mà hình như Quân không nhận ra có sự hiện diện của một người bên cạnh. Vừa loay hoay ghi chép, hắn vừa tự độc thoại: “Kiên bảo, ban đầu chỉ có một Giáo hội do Chúa Giêsu thiết lập, nhưng do cả hai phía đều không có sự khiêm tốn nên mới xảy ra sự chia rẽ đáng tiếc này”.
- Mẹ kiếp! Đụng cái là Kiên, mai phải đi xem mặt cái thằng nhãi đó thế nào mà hắn lại hâm mộ đến thế.
Quân vẫn lẩm nhẩm một mình: “Để xem cậu ta nói có đúng như vậy không nào. À đây rồi, đọc thử bài này:‘Truy tầm nguồn gốc các vụ ly giáo khiến cho Kitô giáo bị chia rẽ lớn trong dòng lịch sử của mình”. Tiến buột miệng hỏi mà quên là hai đứa còn giận nhau:
- Mày đang lảm nhảm cái gì mà như thằng điên thế hả?
- Mày đó à, đã bao giờ mày tìm hiểu: Tại sao Giáo hội lại có những cuộc ly khai lớn trong lịch sử chưa?
- Mày hỏi như vậy có ý gì? Sao hôm nay lại quan tâm đến điều đó?
- Không có gì, tao chỉ đang suy nghĩ câu hỏi của Tâm hồi sáng.
- Tâm hả?
- Biết ngay mà, nghe đến cái tên là mắt sáng quắc lên.
- Mày chỉ toàn nghĩ bậy, Tâm hỏi mày à?
- Không, hỏi bạn Kiên.
- Lại Kiên, sao cứ nhắc đến tên nó hoài thế? Mà Tâm hỏi nó cái gì?
- Hỏi câu hỏi tao bôi đậm đó.
- Thế thằng kia trả lời sao?
- Tao không nghe rõ, chỉ nghe được khúc đầu tiên: “Lúc đầu chỉ có một Giáo hội do Chúa Giêsu thiết lập, nhưng dần có nhiều mâu thuẫn, mà hai phía lại thiếu khiêm tốn nên dẫn đến những cuộc ly khai đáng tiếc này”.
- Tại sao Tâm lại hỏi như thế? Bộ cô ấy muốn đi tu hay là chuyển đạo?
- Mày đi mà hỏi cô ấy, chẳng lẽ cứ đi tu mới phải học hỏi, nghiên cứu về Chúa? Còn Kitô hữu ở đời thì không chắc. Mày thử nghĩ xem, sống trong gia đình mà con cái không hề biết gốc tích tổ tiên của mình thì có còn là thành viên của gia đình không? Đối với Giáo hội cũng thế, muốn nói cho người khác về Giáo hội thì chính mình phải là thành viên của Giáo hội, và biết rõ về Giáo hội. Tao cũng đồng ý với câu hỏi của Tâm.
- Mày tính giảng đạo cho tao đó hả? Đừng nói với tao là mày cũng thích Tâm đó nhé.
- Mày nói thế mà nghe được hả? Tao không phải hạng người như mày nghĩ. Tao cũng không có giảng đạo, tại mày hỏi tao mới nói. Thật sự tao thấy nhột khi Tâm hỏi câu này, trước đây tao vẫn tự hào là một Kitô hữu, là thành viên trong gia đình Giáo hội, thế mà tao chẳng biết tí gì về Giáo hội của mình. Cũng may chưa có ai hỏi về đạo chứ không thì chẳng biết trả lời thế nào. Trong khi đó, ông bạn Tin lành bằng tuổi chúng ta, khi nói về niềm tin của mình, ông ấy xác tín một cách mạnh mẽ, còn biết rõ từng giai đoạn lịch sử của Giáo hội như một nhà giảng thuyết ấy. Sáng nay nghe ông ấy nói chuyện với Tâm mà thấy thèm. Ông ta đặc biệt thuộc Kinh thánh mày ạ, nói đến đâu là trích Kinh thánh đến đó.
- Mày cũng tin bọn đó?
- Sao mày lại gọi là ‘bọn’? Họ là anh em của chúng ta mà.
- Gọi ‘bọn’ là may lắm rồi đó, ‘quân thệ phản’ ấy không xứng đáng là anh em của chúng ta.
- Tiến! 
Quân hét vào tai Tiến, hai mắt trừng trừng như thể muốn ăn tươi nuốt sống người khác.
- Gì mà nhìn tao dữ vậy, bộ tao nói sai sao? Mày bị cái thằng đó bỏ bùa mê thuốc lú rồi chắc.
- Tao không ngờ đầu óc của mày nhỏ hẹp thế Tiến ạ, muốn xây dựng sự hiệp nhất, muốn bắc lại những nhịp cầu huynh đệ thì trước hết phải biết tôn trọng nhau, nhìn nhận những điều tốt của nhau và khiêm tốn nhận ra những thiếu sót của bản thân mình. Lúc đó mình mới dễ dàng đến với người khác và họ cũng dễ dàng đón nhận mình. Bao lâu mình còn muốn bảo vệ cái tôi, còn có những thành kiến thì bấy lâu còn có xung đột, có hận thù và chiến tranh.
- Này, đừng có mà lên lớp dạy tao. Tao gọi ‘bọn’ vì họ chính là những người chống Giáo hội, tại sao cũng từ Kitô giáo mà ra, thế mà họ không tin Đức Mẹ vô nhiễm nguyên tội, không tin Chúa Giêsu hiện diện thật trong bí tích Thánh Thể...Như vậy chẳng phải họ đang chống chúng ta sao.
- Tiến ạ, tao không dám lên lớp dạy mày đâu. Tao cũng không có bênh bên nào đúng, bên nào sai. Tao chỉ trách mày ăn nói hơi hồ đồ, bất kỳ điều gì xảy ra mình cũng nên tìm hiểu từ hai phía, đừng vội kết án. Tao vẫn tự hỏi: “Tại sao Luther lại có sự phẫn nộ đến nỗi ông là một tu sĩ đạo đức thế mà lại bỏ Giáo hội ra đi? Lại trở thành người chống Giáo hội? Khi tìm hiểu lại lịch sử Giáo hội, tao nhận thấy: Luther có phần đúng, ông nhìn thấy những yếu đuối của một số con cái Giáo hội, và lòng nhiệt thành nhà Chúa giúp ông dám nói lên điều đó. Nhưng có lẽ do việc góp ý của ông chưa khiêm tốn đủ nên lời góp ý đó không được đón nhận. Hai bên đều muốn bảo vệ cái tôi cố chấp của mình, đó là lý do dẫn đến sự rạn nứt đáng tiếc này. Từ đó tao suy nghĩ, chính những lời nói thiếu tế nhị trong lúc nóng giận, vô tình tạo nên vách ngăn khủng khiếp mà mình không biết. Cái bức tường ngăn cách, chia rẽ Thầy Giêsu đã hủy diệt bằng chính giá máu của mình lại được con cái Ngài tạo nên. Ngày nay, Giáo hội đang cố gắng phá đổ bức tường ngăn cách ấy và bắc lại những nhịp cầu của tình huynh đệ. Tại sao chúng ta không góp phần nhỏ bé của mình để nối lại những nhịp cầu ấy?
- Tao không nghĩ như mày, nếu đã gọi Giáo hội là thánh thiện thì không thể có sự sai lầm được.
- Đúng, Giáo hội thánh thiện, nhưng Giáo hội lại cưu mang những con người còn khiếm khuyết, cho nên vẫn còn những yếu đuối, bất toàn. Chẳng vậy mà năm 2000, thánh Gioan Phaolo II đã thay mặt Giáo hộiCông giáo xin lỗi tất cả mọi người, mọi tôn giáo đó thôi.
- Vậy mày nói Giáo hội thiếu khiêm tốn ở chỗ nào?
- Tao đan cử cho mày xem nhé, năm 1054 Giáo hội Công giáo và Chính thống phân ly là do hai bên thiếu đối thoại và khiêm tốn, bên nào cũng cho mình đúng. Đến năm 1517 lại có cuộc ly giáo giữa Giáo hộiTin lành và Giáo hội Công giáo. Và chỉ 17 năm sau tức là năm 1534 lại thêm một cuộc ly khai của Anh giáo. Đọc đến đây thật sự tao muốn khóc, bởi vì tất cả những người tin vào Chúa Giêsu đều loan báo cùng một Tin mừng, cùng tuyên xưng một kinh Tin kính, cùng được thanh tẩy bởi một Phép Rửa, nhưng lại luôn đối kháng và chống báng lẫn nhau. Trong khi Thầy Giêsu đã phải bỏ trời xuống thế, hòa mình với con người, sẵn sàng chết để phá đổ bức tường ngăn cách là sự thù ghét, với ước mong cho tất cả được nên một (x. Ga 17,21).
Nói đến đây Quân khóc thật, cái thằng vốn cứng rắn như đồng thế mà hôm nay lại khóc như đứa con nít, làm cho Tiến cũng phải suy nghĩ. Tiến không đứng lại ở phòng Quân nữa mà trở về phòng mình. Những gì Quân vừa chia sẻ làm cho Tiến thật sự bận tâm. Dự tính tối nay đi Big C với mấy đứa bạn giờ đành hoãn lại. Leo lên giường mở chiếc Ipad, lần đầu tiên Tiến tìm đến trang Tin Tức Công giáo. Điều quan tâm nhất của Tiến lúc này là tìm hiểu nguồn gốc lịch sử Giáo hội xem tại sao thằng Quân lại xúc động đến thế. Vừa bung ra gặp ngay bài:‘Giáo hộiCông giáo với đại kết’,Tiến đọc ngấu nghiến như một người đang đói gặp được đồ ăn. Càng đọc ‘mắt Tiến càng mở to’ khi nhận ra bấy lâu nay ‘đôi mắt mình còn quá nhỏ hẹp’. Sống giữa đô thị mà như người ở vùng ‘văn minh chưa tới’, bao nhiêu năm nay Giáo hội đang cố gắng xây lại những ‘cây cầu bị gãy’ bằng những Sắc lệnh về sự đại kết, thành lập Văn phòng Hiệp nhất…đồng thời tổ chức tuần lễ cầu cho sự hiệp nhất Kitô giáo. Đặc biệt, ‘một văn kiện quan trọng đã được ký kết giữa hai Giáo hội Công Giáo Rôma và Tin lành có nội dung liên quan đến Giáo lý chung và về Ơn công chính hóa bởi ân sủng qua đức tin. Liên đoàn quốc tế Giáo hội Luther và Giáo hội Công giáo đã cùng ký văn bản này tại Augsbourg ngày 30/10/1999’[1], thế mà mình vẫn còn có cái nhìn thành kiến với những tôn giáo không cùng niềm tin, không cùng quan điểm với mình. Tiến cứ nghĩ như thế là mình đứng về phía Giáo hội, bênh vực, bảo vệ Giáo hội. Ai ngờ mình trở thành người cản trở sự hiệp nhất trong Giáo hội mà không biết.
Trước giờ Tiến chỉ lãnh hội niềm tin từ gia đình, nhất là nơi người bác ruột. Sống ở cái thời sau Công Đồng mà tư tưởng của bác vẫn cổ hũ, bảo thủ, vô tình đã gieo vào đầu đứa trẻ còn non nớt một sự ích kỷ, thù ghét mà chính người gieo cũng như người nhận không biết. Còn nhớ như in những câu nói của bác: “Bác cấm cháu không được chơi với mấy đứa Tin Lành. Chúng nó là quân thệ phản, là những người chống Giáo hội”. Đó cũng là lý do bác bắt gia đình tôi chuyển nhà đi nơi khác để tránh ở gần những người Tin Lành. Từ đó, trong đầu một thằng bé tám chín tuổi bắt đầu hình thành tư tưởng ‘Tin Lành’ là người xấu. Có lẽ đó là lý do mỗi khi nhắc đến Tin Lành, Tiến lại có ấn tượng không tốt về họ.
Đêm đã khuya, nhìn qua phòng thằng Quân đèn đã tắt, nhưng Tiến vẫn nhìn rõ cái bóng hắn ngồi trong mùng nghiêm chỉnh. Giật mình nhớ ra ‘lâu rồi Tiến không còn đọc kinh trước khi đi ngủ’. Trở vào chiếc giường, Tiến làm dấu thánh giá rồi lẩm nhẩm mà không nhớ được các kinh tối sáng ngày thường, ngoài kinh lạy cha và kinh kính mừng. Tự nhiên lời của thằng Quân hồi nãy vang lên: “Tao vẫn tự hào mình là một Kitô hữu, là thành viên trong gia đình Giáo hội, thế mà thật sự tao chẳng biết tý gì về Giáo hội của mình, tao cảm thấy xấu hổ quá sức”.
- Chúa ơi! Giờ con mới thấy xấu hổ về danh Kitô hữu của mình. Con chỉ có cái vỏ bọc bên ngoài là Kitô hữu mà bên trong rỗng tuếch. Con tưởng mình là người con ưu tú của Giáo hội, nhưng chính con lại chẳng biết gì về Giáo hội. Đã nhiêu năm qua, Giáo hội đang cố gắng san bằng những hố sâu của sự thù ghét, ích kỷ để nối lại những nhịp cầu của tình huynh đệ, yêu thương và hiệp nhất. Vậy mà con lại tiếp tục xây lên những núi cao của sự kiêu căng, đào lên những hố sâu của sự ích kỷ nhỏ nhoi của mình. Con xin lỗi, xin hãy san bằng núi kiêu căng và lấp đầy hố ích kỷ trong con để con biết mở lòng đến với những người anh chị em trong cùng Nhiệm Thể của Chúa. Và cùng với họ, con ca ngợi tình thương của Chúa trước muôn dân. Nhờ đó mọi người mới nhận ra “chúng con là môn đệ của Chúa, là chúng con yêu thương nhau”.
Tắt điện lên nằm, cố nhắm mắt lại mà Tiến không tài nào ngủ được. Những gì Tiến vừa tìm hiểu khác xa những gì Tiến được nghe người lớn nói. Vậy mà suốt thời gian qua Tiến cứ tin lời họ như tin kính, những gì thằng Quân nói hồi nãy lại vang lên như người đang tra tấn lương tâm của Tiến:“Bất kỳ điều gì xảy ra mình cũng nên tìm hiểu cả hai phía. Đừng vội kết án, mày có biết chính những lời nói thiếu tế nhị của mình, vô tình tạo nên vách ngăn khủng khiếp như thế nào không? Chúng ta đang sống ở thời sau Công Đồng, đừng lấy luật để tiếp tục xây lên những bức tường ngăn cách nữa. Mà hãy cộng tác với Giáo hội để nối lại những nhịp cầu bằng sự chân thành của mình, phát xuất từ tình yêu Chúa, vì chỉ có tình yêu của Chúa mới quy tụ chúng ta nên một trong thân thể của Ngài”. Tiến nhớ đến hình ảnh cây cầu mục nát, được thiên thần ủy thác và được một người bạn cộng tác nối lại trong giấc mơ ban sáng: “Chẳng lẽ đó là cây cầu này sao? Cây cầu của mối tương giao, của sự hiệp nhất”. Biết đâu Chúa gởi thằng Kiên vào thời điểm này và muốn thế hệ mình là những người bắc lên những nhịp cầu của tình huynh đệ, để nhờ những nhịp cầu ấy mà hai bên dễ dàng đến với nhau, tôn trọng nhau và hiểu nhau hơn, từ đó cùng nhau tôn thờ Thiên Chúa. Thằng Quân nói đúng:“Tại sao chúng ta không góp phần nhỏ bé của mình để nối lại những nhịp cầu ấy?”.
Sáng hôm sau vừa ra khỏi phòng, không chờ thằng Quân hỏi mà Tiến nói trước.
- Tao đồng ý đi Bình Phước vào chiều mai và cả buổi gặp gỡ liên tôn chiều thứ bảy.
Quân tròn xoe mắt nhìn Tiến:
- Mày nói thiệt không đó?
Nhìn mặt hắn vui trông thấy, làm Tiến cũng vui lây.
- Thiệt, trước đây tao chỉ nhìn thấy những điểm tốt, điểm tích cực của Giáo hội, và chỉ thấy điểm xấu của tôn giáo bạn. Nhưng giờ tao cũng nhìn thấy những điểm tốt, điểm tích cực của họ. Nhất là nhìn thấy điểm thiếu sót và những sai lầm mà Giáo hội đã vấp phải. Nhìn thấy không phải để kết án, nhưng là để thêm yêu mến Giáo hội, để cầu nguyện cho Giáo hội. Và cũng để trân trọng những tôn giáo bạn hơn.
- Tạ ơn Chúa, cảm ơn mày. Giờ tao càng xác tín hơn: Chỉ có tình yêu chân thành phát xuất từ Chúa Kitô mới có sức nối liền mọi ngăn cách. Bởi chính tình yêu của Ngài quy tụ chúng ta nên một.
Kiên từ đâu chạy tới: “Chào hai bạn?”. Tiến vui vẻ giơ tay cho Kiên nắm. Họ cùng nhau bước vào lớp học, vừa đi vừa bàn tính cho buổi từ thiện chiều mai. Kiên thấy vui vì hôm nay có thêm người cộng tác, nhìn nét mặt hân hoan của Kiên và Quân, Tiến mường tượng ra cây cầu hiệp nhất sẽ được hoàn thành trong tương lai, vì hiện tại mọi người đang cố gắng san bằng những khoảng cách bằng sự chân thành. Tiến và Kiên quay lại nhìn Quân, cả ba đều nở nụ cười trên môi.
 
 
 
Description: D:\TU LIEU 2011\BTVHQN\GIAI VIET VAN DUONG TRUONG 2015\LOGO\Viet van DT.png
 
BẢN THỂ LỆ GIẢI VIẾT VĂN ĐƯỜNG TRƯỜNG
Cập nhật cho cuộc thi lần thứ năm - 2017
 
GIẢI VIẾT VĂN ĐƯỜNG TRƯỜNG được Ban mục vụ Văn hóa & Giáo dục Giáo phận Qui Nhơn thực hiện trong khuôn khổ dọn mừng kỷ niệm 400 năm Tin Mừng của Chúa đến với giáo phận Qui Nhơn (1618-2018), nhằm đào tạo cho Hội Thánh Việt Nam nhiều cây bút văn xuôi. Thể lệ, chủ đề và cơ cấu tưởng thưởng của cuộc thi được ấn định như sau.

I. THỂ LỆ

1. Cuộc thi kéo dài sáu năm, năm năm đầu (2013-2017) mỗi năm trao giải một lần.
1b. Riêng lần thứ sáu (2018) sẽ có việc tổng kết các bài đạt giải 5 năm trước về tài năng (Tác giả có nhiều bài đạt giải cao), về nhiệt tình (Tác giả gởi nhiều bài dự thi và đạt giải liên tục nhiều năm), về triển vọng (Tác giả trẻ tuổi nhất đạt giải nhiều lần nhất), về phong trào vv… Ngoài ra sẽ vẫn đón nhận bài dự thi bình thường như các năm trước và vẫn có khung giải thưởng từng năm như các năm trước. Sẽ không hạn chế số lượng bài dự thi của cùng một tác giả. Những tác giả có từ 5 bài trở lên được vào chung khảo sẽ nhận được những phần thưởng đặc biệt, đồng thời sẽ khuyến khích tập hợp thêm những truyện khác của mình để in thành những tuyển tập riêng trong Tủ sách Nước Mặn.
2. Cuộc thi dành cho các bạn trẻ Công giáo, trong cũng như ngoài giáo phận Qui Nhơn, dưới 40 tuổi (năm dự thi – năm sinh theo sổ rửa tội ≤ 40). Người đã đạt giải một lần, các năm sau có thể dự thi tiếp, dù đã hơn 40 tuổi. Các bạn trẻ dự tòng cần có chứng từ đang theo học giáo lý dự tòng.
3. Thể loại: Truyện ngắn, mỗi truyện không dài quá 4000 từ. Không nhận truyện phóng tác. Phải là sáng tác mới, chưa đăng báo, website hay blogs và chưa gửi dự thi ở bất cứ đâu.
4. Truyện lấy ý từ một tác phẩm khác, xin ghi rõ xuất xứ tác phẩm gốc. Nếu bị phát hiện sao chép của người khác hoặc dựng lại theo ý tác phẩm khác mà không ghi xuất xứ, sẽ bị loại và cấm thi các năm tiếp theo.
5. Đề tài:
Năm 2017, Hội thánh Công giáo có hai kỷ niệm lớn, Giải Viết Văn Đường Trường xin được chọn làm chủ đề cho cuộc thi lần thứ V:
– 100 năm Đức Mẹ Fatima và việc thực hiện lời mời gọi hoán cải của Mẹ trong đời sống người tín hữu từ ấy đến nay.
– 500 năm Hội thánh Công giáo và Hội thánh Tin lành cùng nhìn lại cuộc cải cách của Lm Martin Luther. Người Công giáo cần học hỏi những gì nơi anh chị em Tin Lành và có những gì cần giới thiệu với họ? Đã có những nỗ lực nào cho tình hiệp nhất và còn phải làm gì thêm nữa?
Ngoài ra, quý tác giả cũng có thể tham gia với những tác phẩm về các chủ đề khác của Kitô giáo.
6. Mỗi năm, mỗi tác giả có thể tham gia tối đa 05 bài dự thi (riêng năm thứ sáu 2018 không giới hạn số bài), có thể gửi chung một lần hoặc nhiều lần.
7. Chỉ nhận bài dự thi qua điện thư email, gửi attach file với định dạng .doc hoặc .docx, không nhận bài gửi qua đường bưu điện.
8. Đầu bài dự thi phải ghi rõ: tên thánh, họ và tên, bút danh, năm sinh, rửa tội tại đâu, năm nào, địa chỉ nhà, giáo xứ, giáo phận, số điện thoại liên lạc, địa chỉ email. Dù đã gửi nhiều email dự thi, đầu mỗi bài đều cần ghi như thế. Những bài thiếu các chi tiết này sẽ không được nhập hồ sơ dự thi.
9. Mỗi bài dự thi sẽ được nhập hồ sơ theo lần gửi đầu tiên, mọi chỉnh sửa về sau đều không được chấp nhận.
10. Địa chỉ nhận bài, xin gửi cùng lúc về 2 điện chỉ email: tinmunggiesu@gmail.comgopnhattho@yahoo.com.
11. Thời gian nhận bài: trước ngày 01-3 mỗi năm. Những bài gửi về muộn hơn sẽ được đưa vào hồ sơ dự thi năm sau.
12. Tưởng thưởng: Mỗi năm sẽ có 06 giải thưởng chính thức và 15 giải triển vọng, theo cơ cấu và sinh hoạt như sẽ nói dưới đây.
13. Kết quả cuộc thi hằng năm sẽ được công bố ngày 15-8 mỗi năm
14. Lễ trao giải vào ngày 21-9 mỗi năm.
15. Những tác giả được vào chung khảo mà không đạt giải sẽ được hỗ trợ một phần tiền xe về dự ngày họp mặt trao giải.
16. Các thông tin về cuộc thi sẽ được đăng trên Facebook Văn thơ Công giáo https://www.facebook.com/groups/vanthoconggiao/, trên trang mạng giáo phận Qui Nhơn http://www.gpquinhon.org và những trang mạng ủng hộ chương trình này.
17. Các tác phẩm đạt giải sẽ được in thành tuyển tập do Ban Tổ Chức giữ bản quyền.
II. TƯỞNG THƯỞNG
Cơ cấu giải thưởng
Mỗi năm, có 6 giải thưởng chính thức và 15 giải triển vọng.:
- một giải nhất:                                          20.000.000 $VN
- hai giải nhì, mỗi giải                                  12.000.000 $VN
- ba giải ba, mỗi giải                                     8.000.000 $VN
- 15 giải triển vọng, mỗi giải                           3.000.000 $VN
 
Tuyển tập truyện ngắn riêng
Ngoài phần thưởng bằng tiền mặt, những tác giả đạt giải, nếu có nhiều truyện khác có giá trị, sẽ được Tủ Sách Nước Mặn hỗ trợ xuất bản một tuyển tập riêng dưới 200 trang với những truyện ngắn mang nội dung Kitô giáo.
Những tác giả không đến dự lễ trao giải sẽ chỉ được nhận 50% tiền giải thưởng và không được hỗ trợ in tuyển tập riêng. Những tác giả chỉ dự lễ trao giải 21-9 mà không tham gia hành hương 22-9 chỉ được nhận 75% tiền giải thưởng, nhưng vẫn được hỗ trợ in tuyển tập riêng.

III. TƯỞNG THƯỞNG DÀNH CHO ĐỘC GIẢ
1. Bình chọn
Các truyện dự thi đã qua vòng sơ tuyển sẽ lần lượt được đưa lên Facebook Văn thơ Công giáo của Giải VVĐT tại
https://www.facebook.com/groups/vanthoconggiao/
Mời độc giả tham gia bình chọn theo thể lệ trên FB.
2. Giúp phát hiện trường hợp sao chép
Những độc giả giúp phát hiện đầu tiên những bài dự thi sao chép của người khác (xin ghi rõ xuất xứ bài gốc) sẽ được tặng quà lưu niệm đồng thời được hỗ trợ tiền xe về dự họp mặt trao giải và hành hương “dấu chân Hàn Mạc Tử”.
Ban Tổ Chức chân thành biết ơn sự giúp đỡ của các ân nhân. Các hỗ trợ tiền bạc hoặc hiện vật cho cuộc thi xin gửi về: Linh mục Võ Tá Khánh, 116 Trần Hưng Đạo, TP Qui Nhơn – Email: gopnhattho@yahoo.com – Điện thoại: 0935-424-449.
 
Qui Nhơn, ngày 15-8-2016
(Cập nhật ngày 15-10-2016)
TRƯỞNG BAN TỔ CHỨC
chu ky cha khanh
Lm Gioan Phêrô Võ Tá Khánh (Trăng Thập Tự)
Trưởng Ban MV Văn hóa & Giáo dục Giáo phận Qui Nhơn
 
 
 

[1]Thạch Vinh,Giáo hội Công Giáo với Đại kết (Bài 4),Đăng ngày 13.10.2016 - 8:34am