Giáo Phận Hải Phòng

http://gphaiphong.org


Lý thuyết và thực hành (Bài giảng Chúa nhật XV Thường niên – Năm C)

Người tín hữu đích thực là người lắng nghe và thực hành Lời Chúa, để rồi Lời Chúa là kim chỉ nam hướng dẫn và soi rọi mọi hành vi cử chỉ và lời nói của mình. Thiếu thực hành, đời sống đức tin có nguy cơ biến thành một truyền thống văn hoá hoặc những chỉ dẫn luân lý thuần tuý trần gian. Đó là điểm nhấn trong giáo huấn của Lời Chúa hôm nay.
 
Cách đây vài ngày, ngày 25-6-2019, báo chỉ đưa tin và hình ảnh Camera ghi lại một chiếc taxi hãng Vinasun tông xe vào một đôi nam nữ đang chạy xe gắn máy trên đường tại Sàigòn khiến hai người bất tỉnh. Người tài xế dừng xe, bước xuống quan sát và khi không thấy ai ngoài hai nạn nhân, anh ta lạnh lùng lên xe và tẩu thoát. Ngày 8-7-2019, một thông tin khác cho hay tại Gia Lâm (Hà Nội) một chiếc xe hơi đã tông thẳng vào người phụ nữ lao công đang làm việc, khiến chị bị văng bên lề đường và tử vong. Người tài xế “máu lạnh” này cũng bỏ chạy, để mặc nạn nhân. Những thông tin này cho thấy con người càng ngày càng vô trách nhiệm và vô cảm đối với tha nhân, nhất là đối với những nạn nhân do chính họ gây nên.
 
Truyền thống văn hoá Việt Nam của chúng ta có biết bao lời giáo huấn về tình liên đới, ca ngợi những nét đẹp thể hiện qua sự đùm bọc cứu giúp lẫn nhau: “Lá lành đùm lá rách”, “Bầu ơi thương lấy bí cùng...”, “Một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ”. Trong thời buổi hiện đại này, những nét đẹp truyền thống ấy có nguy cơ bị quên lãng do sự ích kỷ của con người.
 
Đối với một số tín hữu Công giáo, việc đón nhận giáo huấn của Chúa và của Giáo Hội chỉ dừng lại ở lý thuyết và không có thực hành. Đó là lý do tại sao vẫn tồn tại những tranh chấp nơi các cộng đoàn. Đây đó vẫn có những người nhận mình là Kitô hữu mà sống ngược lại với giáo huấn của Chúa. Người tín hữu đích thực là người lắng nghe và thực hành Lời Chúa, để rồi Lời Chúa là kim chỉ nam hướng dẫn và soi rọi mọi hành vi cử chỉ và lời nói của mình. Thiếu thực hành, đời sống đức tin có nguy cơ biến thành một truyền thống văn hoá hoặc những chỉ dẫn luân lý thuần tuý trần gian. Đó là điểm nhấn trong giáo huấn của Lời Chúa hôm nay.
 
Thiên Chúa không chỉ là Đấng ngự trên chín tầng cao xanh. Tác giả Đệ nhị Luật đã khẳng định điều đó. Xuyên suốt lịch sử dân Do Thái, Thiên Chúa luôn phù trợ đồng hành và che chở. Ngài đã mặc khải cho ông Môisen: “Ta là Thiên Chúa của Abraham, của Isaac và của Giacóp. Điều này có nghĩa, Ngài là Thiên Chúa gần gũi với con người và luôn cứu giúp con người. Vì vậy, luật của Chúa cũng không phải điều gì xa xôi, mà gần gũi với con người, để rồi ai cũng có thể thực hành được, tuỳ hợp với khả năng và bậc sống của mình.
 
Nếu trong Cựu ước, Thiên Chúa được trình bày như một Đấng che chở đồng hành với Dân được tuyển lựa, thì đến thời của Tân ước, Chúa sai Con của Ngài nhập thể để ở cùng nhân loại, đồng cam cộng khổ với con người, để chia sẻ kiếp sống nhân sinh đầy thử thách gian nan và đau khổ. Qua Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa vô hình đã trở nên hữu hình. Đấng vĩnh cửu đã bước vào thời gian. Thánh Phaolô đã khẳng định: “Đức Giêsu là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình”. Điều đó có nghĩa, nếu con người không thể nhìn thấy Thiên Chúa, thì họ có thể gặp ngài qua Người Con, là Ngôi Lời nhập thể (Bài đọc II). Người Samaritanô nhân hậu chính là hình ảnh của Chúa Giêsu. Người đã cứu vớt và chữa lành cả nhân loại đã bị tổn thương do tội lỗi. Người đã mang lấy nỗi đau và bệnh tật của con người, để cho họ được hạnh phúc và bình an. Kitô giáo là Đạo nhập thể, là tôn giáo khẳng định “Thiên Chúa đã làm người và ở giữa chúng ta”.
 
Nếu Thiên Chúa đã cúi mình xuống để cưu mang và cứu độ con người, thì con người lại dửng dưng đối với nhau. Trong dụ ngôn “Người Samaritanô nhân hậu”, Chúa Giêsu đã nhắc tới hai người được đào tạo và có chức vị trong Do Thái giáo, đó là một tư tế và một trợ tế. Họ là những người “cầm cân nẩy mực” để đánh giá và duy trì những chuẩn mực luân lý và mức độ đạo đức của người dân. Khi thấy người bị nạn, bầm dập vết thương và bị bỏ rơi nửa sống nửa chết bên vệ đường, hai người này đã dửng dưng bỏ đi. Họ được giáo dục về lòng yêu mến tha nhân, nhưng lòng yêu mến đó chỉ dừng lại ở sách vở và lý thuyết, còn những con người đau khổ cụ thể thì họ lại bỏ qua. Trong khi đó, người Samaritanô, một người “dân ngoại” và vô danh, lại mang một trái tim nhân hậu. Những chi tiết được nhắc tới trong dụ ngôn cho thấy anh là một người chu đáo tận tâm. Anh chấp nhận những hệ luỵ và mọi tốn kém để cứu giúp người bị nạn. Anh còn chu đáo dặn người chủ quan: “Nhờ anh chăm sóc giúp người này, tốn phí bao nhiêu, tôi sẽ thanh toán khi trở về”. Anh đã coi người bị nạn như người thân cận của mình, và hơn nữa, như chính bản thân mình vậy.
 
Lời Chúa hôm nay vừa dạy chúng ta cảm thương cứu giúp những người bị nạn, vừa thay đổi những thành kiến về những người xung quanh. Như đã nói ở trên, trong quan niệm của người Do Thái nói chung thời bấy giờ, những người Samaritanô là người bị coi thường và đáng khinh bỉ. Đây là những hệ luỵ vừa mang tính lịch sử vừa mang tính tôn giáo. Khi diễn tả người Samaritanô cảm thương cứu giúp người bị nạn, Chúa Giêsu muốn lên án sự kỳ thị chia rẽ và phân biệt. Đừng coi thường những người không cùng chủng tộc và tôn giáo với mình, vì họ mang trái tim nhân hậu, trong khi những người xưng mình là công chính chưa chắc đã tốt như họ.
 
“Lạy Thày, tôi phải làm gì để được sống đời đời?”. Chúa Giêsu đã trả lời bằng cả một câu chuyện đong đầy ý nghĩa sâu sắc. Người Samaritanô vốn bị khinh bỉ coi thường, bỗng trở thành mẫu gương cho mọi người: “Hãy đi và làm như vậy!”. Đây vừa là câu trả lời dành cho người thông luật, vừa là mệnh lệnh Chúa gửi đến chúng ta. Quả vậy, Lời Chúa không chỉ là những lý thuyết suông, nhưng phải được thực hành cụ thể trong đời sống. Vâng, chúng ta hãy đi vào cuộc sống. Hãy có lòng nhân hậu đối với tha nhân. Hãy có trái tim nhân hậu và lòng nhân từ như Cha trên trời.
 
+TGM Giuse Vũ Văn Thiên